Trầm Luân

Nguyễn Hiền

Dằng dai đến tháng thứ sáu thì vợ chồng Thuận đã mất kiên nhẫn và cùng đi đến quyết định là phải chỉnh đốn lại bàn thờ. Chỉnh đốn hiểu theo nghĩa của hai vợ chồng là thay pho tượng Phật trên bàn thờ bằng một pho tượng khác hợp thời trang hơn. Chỉ khổ cho pho tượng, nếu gỗ đá cũng có linh hồn thì hẳn nó cũng đang lo cho số phận mình, chẳng biết sẽ đi về đâu.

Nếu nói là cả hai cùng đi đến quyết định thì cũng không đúng lắm. Thực ra là vợ Thuận quyết định, như đã từng quyết định những chuyện quan trọng hàng ngày. Thuận chỉ có một việc là chiều theo. Quyết định quan trọng độc nhất trong đời Thuận có lẽ là quyết định lấy Diễm làm vợ. Ðây có lẽ cũng là quyết định quan trọng cuối cùng, bởi theo như miệng lưỡi người đời là vợ con chỉ làm hèn đi chí nam nhi. Có lẽ cũng vì cớ ấy, cho đến bây giờ, mọi chuyện trong nhà nhất nhất đều trông cậy vào hai tay và một miệng Diễm.

Nói đúng ra, việc ‘chỉnh đốn’ lại bàn thờ không phải hoàn toàn không có ý kiến của Thuận. Thực ra anh cũng thấy có cái gì đó không ổn, không hài hòa ở đám đồ vật chung quanh anh, theo ngày tháng, đã dần trở thành thân quen. Hôm đám cưới, dì Ba của Diễm mang từ trong nước ra cho hai người một pho tượng Phật làm quà. Pho tượng là nguyên một khối gỗ nâu sậm, được thợ khéo ra công chuốt, đánh bằng lá mít đến nhẵn bóng (dì bảo vậy), lại còn đính thêm một vòng hào quang có những bóng điện tí hon vàng và đỏ thay phiên nhau chớp tắt. ‘Ðồ này hiện đang mốt ở Việt Nam đó, dì cho hai cháu để bàn thờ, chưng vừa đẹp, vừa có Phật phù hộ hai cháu làm ăn phát đạt. Dì đã lên chùa thỉnh thầy Trí Huệ xin Phật gia ân rồi, tượng bán ngoài chợ có khi ma quỉ ám vô không tốt đâu cháu.’ Có lẽ Phật phù hộ hai vợ chồng mới cưới thực, nên chỉ vài tháng sau Thuận đã xin được chỗ làm tốt hơn. Diễm cũng ra được cửa hàng bán đồ ăn dặm. Hai vợ chồng tậu xe, mua nhà, chỉ trong vòng bốn năm nhìn lại đã thấy bạn bè mình ở tuốt dưới xa ngước lên thèm thuồng.

*

Nhưng cũng chính vì vậy mà mới đâm ra cớ sự. Một tối, sau khi đã bật nhang và đèn cầy điện trên bàn thờ, đặt lên đó một dĩa trái cây mới mua ngoài chợ theo thói quen, Diễm bỗng buột miệng:

‘Anh à! Mình để hoài bức tượng đó coi quê quá đi.’

Khi người ta buột miệng nói một điều gì, thì điều ấy luôn từ tiềm thức trồi lên, không gạn lọc, không sửa chữa. Nhưng vì vậy, thường làm người khác mích lòng.

Thuận cũng không thoát khỏi những qui luật trần tục như thế. Anh đỏ mặt nạt ngang:

‘Bậy nào! Tượng để bàn thờ đâu có phải muốn thay là thay như thay áo được đâu.’

‘Hôm qua con Hồng nó sang đây chơi, nó nói với em: trong nhà mày cái gì cũng xịn, chỉ có cái bàn thờ là đồ mã.’

‘Em mà nghe nó có ngày bán lúa giống mà ăn. Con quỉ ấy lúc nào cũng muốn kê mỏ vô chuyện người khác.’

‘Thì em đã nói với nó là thời này ai cũng chơi nhang điện, đèn cầy điện hết. Bên nhà con Bé Tư chồng nó còn mua thêm cái timer có vô chương trình sẵn, tới mồng một và rằm là tự động bật đúng từ sáu giờ sáng đến chín giờ khuya, em thấy nó cũng tiện. Hay là mình mua một cái để khỏi mất công coi ngày…’

‘Anh thì anh để nhang đèn tối ngày sáng đêm hoài, khỏi mất công tắt.’

‘Ðể như vậy nó giống nhà Tàu lắm. Mà coi nó u ám làm sao ấy. Nhưng thôi. Con Hồng nó nói với em là mày có cái nhà đẹp, đồ chưng toàn thứ xịn, chỉ có cái bàn Phật chớp đèn xanh đỏ là không giống ai.’

Cũng bằng chừng đó ý, nhưng lời nói được thêm mắm dặm muối đã trôi được một nửa. Thuận buông xuôi:

‘Vậy em tính làm sao?’

‘Em đã nói với con Hồng thấy có tiệm nào bán tượng lớn mà đẹp thì kêu mình đi coi. Không chừng để hè này mình về nhờ dì Ba dỉ coi mua giùm cho mình, bằng không mình ghé Hồng Kông hay Ðài Loan gì đó mua một cái. Tượng Phật mà mua tận gốc chắc chắn phải đẹp hơn đồ nhái lại anh há.’…

*

Thế là một ngày kia, sau khi bức tượng Phật mới đã được thỉnh lên bàn thờ cùng một bữa cỗ chay mời bạn bè, vợ chồng Thuận và Diễm trịnh trọng mang bức tượng có phần số hẩm hiu đến gặp thầy trụ trì ngôi chùa hai người thỉnh thoảng vẫn đến thăm vào những ngày rằm chính.

Diễm bàn với chồng:

‘Ðể lần này em cúng trước một trăm đồng thì mọi chuyện sẽ êm đẹp, đầu xuôi rồi thì đuôi lọt được ngay.’

Thuận tiếp bằng bản nhạc ruột:

‘Ừ thì em muốn làm gì đó thì làm.’

‘Nhưng anh phải cất cái bản mặt hâm của anh đi, ra đường họ thấy họ lại nói em ăn hiếp chồng.’

‘Ừ thì em tính làm sao đó thì tính, miễn là đừng để mình phải mang cái tượng về thì không ra cái gì cả.’

Anh chàng bồi thêm một phát: ‘Sao em không xem bạn bè ai cần thì cho họ, khỏi phải mất công tính tới tính lui xem cúng một trăm hay cúng năm chục như mọi lần.’

‘Em đã hỏi mấy con bạn rồi. Nhưng đứa nào cũng có bàn thờ, không thờ Phật thì thờ Chúa. Ai mà vượt biên lọt cũng phải vội vàng lập bàn thờ tạ ơn. Còn mấy gia đình bên Tiệp mới chạy sang tị nạn thì em không biết, nhưng anh đừng có láng cháng qua bên đó, mấy đứa bạn anh họ thấy họ đồn tùm lum lên thì tiệm mình có nước dẹp.’

Vợ chồng anh tiếp tục lái xe, không nhìn lại phía sau. Trên băng nệm pho tượng nằm lăn lóc. Nếu tình cờ ngoái lại, may ra họ chỉ thấy pho tượng tủi thân chảy nước mắt. Ðọc tới đây có lẽ bạn sẽ nghĩ như vậy, nhưng từ xưa tới nay người ta chỉ thấy tượng Mẹ Maria chảy nước mắt. Bằng nước mắt, nỗi đau của con người được cất đi. Nhưng nỗi đau trần thế cũng giảm khi con người biết mang nụ cười vào đời. Pho tượng Phật tắt hào quang néon thấm tư tưởng này, đã mỉm cười ở yên trong tư thế tòa sen trên suốt khoảng đường dài, mặc cho xe dằn, bỏ ngoài tai những lời toan tính trần tục.

*

Cũng may mọi sự xảy ra dễ dàng hơn hai vợ chồng đã nghĩ. Thầy trụ trì nhìn hai vợ chồng trẻ rón rén đặt pho tượng lên bàn, nhỏ nhẹ nói:

‘Con đừng nên câu nệ tượng lớn tượng nhỏ. Phật ở trong tâm. Tượng chỉ là phương tiện, là một phần nhỏ trong Tam Bảo…’

‘Nhưng thầy nghĩ coi. Chúng con ở căn nhà rộng rinh, tượng nầy nhỏ quá để trên bàn thờ huốt trong một góc không ai thấy hết. Thầy tính coi,’ chị van nài. ‘Nếu thầy để bức tượng nhỏ chút xíu trên bàn thờ trong chánh điện thì nó chướng mắt lắm, mà người ta thấy tượng nhỏ họ lại nói tới nói lui…’

Phải nói miệng lưỡi đàn bà… Chỉ một câu từ tốn đã dồn vị tăng mười mấy năm tu luyện đến một tình thế khó xử. Hoặc giả trên con đường tu tập không có những khóa học dậy cách đối phó với những mánh khóe điên đảo ngoài đời. Thầy ngần ngừ trước một tình thế nan giải, trước một nan đề chưa ai đặt ra với thầy. Bởi vì, khi mới nghe ban trị sự bắn tin khởi công khơi mở lại cảnh chùa lớn hơn và có ngăn nắp hơn, một Phật tử mộ đạo đã khẩn khoản xin thỉnh cả một bộ ba tượng cũ của chùa, Phật Thích Ca, Quan Âm và Địa Tạng, để mang về giữ làm kỷ niệm. Ðổi lại, gia đình đó đã chịu một nửa kinh phí mua và chở bộ tượng mới, thếp kim nhũ, đặt thợ làm từ Hồng Kông, chưa kể một mâm sen Bạch Ngọc đem thả xuống hồ.

Tội nghiệp cho Thuận và Diễm. Họ chưa có gì để nổi tiếng ngoài mấy món đồ ăn vặt bán cho một dúm khách bụng bự quen ăn quà chợ. Bức tượng của họ, vì thế, giá cũng chẳng hơn được lũ tượng đất nung sờn sứt bày ngoài chợ đồ cũ bao nhiêu.

Cũng may bác Thọ, ông già lụm cụm, người giữ việc coi sóc ngôi chùa, làm những chuyện lặt vặt tình nguyện như nhổ cỏ, thổi cơm… đang ngồi tiếp nước, đã nhanh trí đỡ lời:
‘Thôi nếu hai cháu đã thỉnh tượng mới rồi thì cứ để Phật ở đây,’ bác nói một cách thành kính như sợ phạm thượng. ‘Ðể bác hỏi những người mới đến quy y, thế nào cũng có người cần.’

Vợ chồng mừng rỡ cám ơn, ríu rít dắt nhau ra về. Xe chưa khuất, thầy trụ trì đã cau mặt nhìn bác quản chùa:

‘Bác nhận như vậy rồi cất chỗ nào đây?’

Thầy đang nghĩ đến chuyện trong tương lai không khéo Phật tử khi nghe chuyện này đồn ra, họ sẽ dùng ngôi chùa làm chỗ tống khứ đồ tế tự thì thật phiền. Bác Thọ đoán được ý thầy, thưa:

‘Chuyện đó để con tính. Thầy khỏi lo. Con cất nó dưới nhà hậu, chừng có dịp tuần chay thế nào cũng có người hỏi…’

*

Tuy thế bức tượng để trong nhà kho chùa đã trải qua mấy mùa Phật Ðản, Vu Lan, rồi mấy bận rằm tháng giêng, tháng mười trôi qua không ai thăm nom đến. Cho tới một hôm, tình cờ trong câu chuyện sau buổi lễ cầu siêu, các bà từ chuyện đạo nhảy sang chuyện đời, so sánh đạo Phật với đạo Thiên Chúa. Một bà hỏi bác Thọ vì sao thầy không làm phép hôn phối như cha sở nhà thờ. Nghe bác hỏi tới, bà kể:

‘Tôi mới làm đám hỏi cho con bé nhà tôi, bên đàng trai họ tính năm tới thì rước dâu. Tôi chỉ muốn chúng nó cưới sớm chừng nào hay chừng nấy. Nếu bên Phật mà mấy thầy cũng chịu đi làm phép cưới, tụng kinh cho bọn trẻ thì nói gì nó chẳng nghe. Tôi chỉ sợ chúng nó hư, thời này mới nứt mắt chưa gì đã ngủ với nhau.’

‘Nhưng còn hơn để thằng rể tương lai của bà đi ngủ lang rồi sau này đổ bệnh cho con vợ nó,’ bà bạn ngắt lời.

Bác Thọ bỗng trực nhớ ra pho tượng Phật bỏ lăn trong hậu liêu. Ðược dịp, bác nói:

‘Trong chùa có cái tượng Phật của một Phật tử để lại cho chùa giữ. Chị có muốn thỉnh thì nói với thầy một tiếng.’

Bác dắt bà tín chủ xuống gian nhà ngang cất bên hông chùa, bên trong lỉnh kỉnh đồ làm vườn chung lộn với đồ nấu tiệc. Chiếc hộp carton được mang xuống, nét chữ bằng mực bút nỉ bên ngoài còn nguyên như mới: ‘Tượng Phật.’ Bác mở hộp, kính cẩn lấy pho tượng ra, se sẽ thổi bụi và đưa cho bà nọ:

‘Bà về lấy nước chùi lại là nó sạch bóng như mới liền. Của hai vợ chồng ông đó, nhờ có bức tượng mà họ ăn nên làm ra…’

‘Sao họ không giữ mà lại cho đi?’ bà kia ngần ngại hỏi.

‘Họ không ở đây nữa,’ bác Thọ nói, dường như vì thấy kết quả sắp tới bác đã quên cả giới thứ tư. ‘Mà thường thì khi người ta thành công rồi lại hay quên ơn người đã giúp. Ðời mà chị.’

*

Thế là pho tượng đã có chủ mới. Thùng phước sương cũng được lót thêm ít tờ bạc. Bác Thọ mừng rỡ. Chiều đó bác định làm một món gì ngon dâng thầy, nhưng cả đời bác chỉ quay trong vòng dăm bảy món: hết đậu hũ kho tương chung với cà rốt, mì căn xào măng thì tới canh trái su bắp cải. Ðồ chay khó làm tiệc hơn đồ mặn. Thế là bác đành quay lại bản cũ: một đĩa gỏi chay, một tô canh cà rốt củ cải và một ơ nhỏ dăm miếng tàu hũ chiên, kho với đu đủ xanh xắt quân cờ. Hai thầy trò im lặng ăn, mùi hương phảng phất từ chánh điện đưa xuống dẫn cả hai tâm hồn theo ngõ của ý. Bác Thọ tưởng đến nét hớn hở của bà khách khi mang bức tượng đến nhà cậu con rể tương lai, như một thứ bùa trấn yểm, để những chuyện bậy bạ ngoài ý muốn của bà sẽ không xảy ra. Còn vị đại đức. Ông đang suy tư về những hệ lụy giữa đạo và đời, hai phạm trù cần nương tựa vào nhau, không thể tách lìa. Cũng như ông và bác Thọ. Cả hai đều cần đến nhau. Không có ông, chắc bác Thọ giờ này đang quay cuồng theo những toan tính người trần. Không có bác Thọ, chắc giờ ông cũng vẫn còn tiếp tục ngồi thiền trên căn gác nhỏ, cả chuông lẫn mõ đều phải ngậm giẻ tránh làm phiền hàng xóm. Chân lý mầu nhiệm nhưng đơn giản ấy, giờ như mới thấm vào tâm của vị sư già.

Chỉ riêng pho tượng trên đường về chỗ mới vẫn nguyên vẻ hồn nhiên, nụ cười muôn thuở vẫn như dạo nào, không thay đổi, dù chỉ một nét nhỏ.

Nguyễn Hiền

Đến Hẹn Lại Lên

Nguyễn Hiền

Cuối cùng thì vợ chồng ông Lân cũng về tới nhà. Đã quá nửa đêm. Sự căng thẳng suốt hơn tiếng đồng hồ giúp ông tỉnh ngủ trên khúc đường về, nhưng bây giờ, khi chiếc xe đã nằm yên chỗ, ông bỗng cảm thấy rời rã. Tuy thế, ông biết, nếu có đặt lưng xuống giường ông lại mở mắt trao tráo. Vài năm nay ông bị chứng mất ngủ vô thời khắc. Giờ người ta ngủ, ông thức. Giờ thiên hạ thức, ông chập chờn. Bác sĩ khuyên ông không nên xem computer giấc khuya, nhưng vô hiệu. Thói quen xem phim bộ như có một người tình thủ thỉ bên tai tới khi ngủ thiếp đã thấm vào tận những mao quản li ti trong người ông. Bên cạnh, vợ ông giật mình, dụi mắt. Ông khẽ nói:

“Đến nhà rồi. Em vô thay đồ, đi ngủ đi, để anh mang đồ đạc vô.”

Vợ ông bước xuống xe, nói không quay lại:

“Mệt quá đi. Em nói rồi đó. Lần sau có đi thì anh đi một mình thôi đấy nghe.”

Ông không biết câu nói lần này là thực hay do giận lẫy, vì đã bao lần vợ ông nói như vậy, rồi cuối cùng vẫn lại ngồi lên xe cùng ông đến nơi họp mặt. Như một chứng tỏ cho mọi người thấy có chồng có vợ cạnh nhau. Hay để kiểm soát lời ăn tiếng nói của ông giữa chốn bạn bè, có trời mới biết. Lần này có hơi khác, ông linh cảm vậy. Đúng hơn, tai ông dường như bắt được những cảm nhận của người mấy chục năm đầu gối tay ấp. Trên đường về nhà, bà than hai ba bận:

“Đám bạn anh tụ họp lần nào cũng bằng ấy chuyện, nói tới nói lui hoài. Chán thấy mồ.”

Ông chặc lưỡi, tuồng đồng ý, và tự bào chữa là tật nói đi nói lại dằng dai một chuyện một là tật cố hữu của nhiều người khi đã vào tuổi mặt trời xế bóng trong cuộc đời. Bởi họ không có cơ hội gặp cái mới, và cũng chẳng có nhu cầu tìm biết thêm. Còn riêng trong đầu, ông cũng nghĩ đến chuyện chắc phải chấm dứt tham dự những cuộc họp như thế này thôi. Càng ngày, dường như chúng càng trở nên nhạt nhẽo. Đó là chưa kể tới những xui xẻo. Như tối này.

Ông đang nghĩ tới quãng đường về và cố tìm lời giải đáp. Chục phút sau khi ông bà rời trạm xăng, chiếc xe cà tàng chợt dở chứng, khục khặc ho hen… Ông vội tấp vào lề. Hai bên đường chỉ có đồng cỏ trống trơn, không nhà cửa, cũng chẳng có ngọn đèn đường. Bà vợ choàng tỉnh, hỏi dồn:

“Gì vậy anh?”

“Không biết, sao nó không chịu chạy nữa.”

“Kỳ vậy, mình mới đổ xăng mà. Hay hồi nãy anh đổ lộn dầu rồi đó?”

Ông thấy nhói trong tim, nhưng may còn nhớ ra:

“Đổ đúng xăng mà, anh nhớ là anh còn coi cái giá mỗi lít trước khi bơm mà em.”

Ông vặn chìa khóa. Máy xe khục khặc giận dỗi. Nghĩ máy ngộp, ngồi định thần một lát, ông tiếp tục đề. Chẳng khá hơn. Ông bắt đầu run. Bà cũng quýnh, khi chợt thấy bó bông đã héo úa nằm dọc lề đường bên kia, cách đó không xa:

“Anh xuống coi sao…”

Ông khoác áo, bước xuống, mở nắp ca-bô lục lọi bới tìm. Mọi thứ đều có vẻ bình thường. Bình điện, nước nôi… Bà hỏi với ra:

“Có thấy gì không anh?”

“Không thấy có gì trục trặc hết.”

Ông lên xe, mở công tắc, trên bảng báo chẳng có dấu hiệu gì khác lạ, xăng đầy, nước ấm vừa đủ. Ngộp xăng thì chắc chắn là không, bởi xe đang chạy ngon trớn trên con đường liên tỉnh. Nhưng giờ thì cỗ máy vẫn đình công, kêu ặc ặc, dấu hiệu sắp hết bình vì bị đề liên tục.

“Điệu này chắc chỉ còn cách kêu họ tới sửa. Mà khuya quá rồi, không biết chừng nào họ mới tới đây.”

“Hồi nãy kêu anh về sớm mà anh cứ ngồi chết đó, nói chuyện gì đâu không”, bà bắt đầu nổi quạu. “Hồi đó anh sửa xe hay lắm mà, giờ cái xe mới chết máy mà đã đầu hàng.”

Mặc bà khích, ông dịu giọng:

“Hồi xưa ở Việt Nam khác. Xe cộ bây giờ toàn đồ điện tử không, hư là chỉ có nước kêu hãng bảo trì họ tới, có máy đo. Mình đâu có mấy cái đồ nghề đó.”

Bà chịu thua, hối ông kêu cho hãng bảo hiểm. Hai vợ chồng ngồi chết trân trên xe. Ông toát mồ hôi cùng mình mặc dầu trong xe khí lạnh bắt đầu thấm, còn bà liên tục bắt ấn, niệm Phật và ngó chằm chằm bó bông, sợ mắc chứng nó nhỏm dậy. Hơn nửa tiếng sau, chiếc xe vàng cứu tinh xịch đến. Ông lắp bắp giải thích – thực ra chẳng cần dài dòng, xe không chạy là không chạy, chỉ có việc coi lại ba thứ: xăng, nước, điện, ông rành sáu câu. Ông vốn dân Quân Vận, nhờ tài sửa xe Honda cho cả gia đình nhà vợ mà ông bà đã nên đôi. Chuyện dễ như ăn cơm sườn mà giờ đây ông đành bó tay, làm ông cũng bực, coi như mất điểm thêm qua cú này. Người thợ rê đèn soi một lượt, bàn tay thành thạo lắc chỗ này, móc chỗ nọ. Ông đứng cạnh dòm theo nhưng chẳng học lóm được thêm gì.

Vậy là anh ta chui vào xe. Mở công tắc, liếc qua dãy đồng hồ và đèn báo, vặn chìa. Máy phát nổ ròn tan như chế nhạo sự kinh ngạc của ông già. Anh ngó ông Lân, có vẻ hơi bực. Hai vợ chồng tròn mắt ngó lại.

“Ủa! Có gì trục trặc đâu!”

“Nãy giờ tôi… tôi đề… đề cả chục lần…”, ông lắp bắp, trời tối không ai thấy mặt ông đỏ cỡ nào. May là mấy ly rượu đã tan gần hết, không thì… Ông cố vớt vát:

“Nếu không có chuyện gì thì tôi đâu mắc công kêu anh…”

Nhưng anh thợ không để ý chuyện này. Móc điện thoại báo về tổng đài, ngoáy mấy chữ vào tờ tường trình công việc đưa cho ông ký, xong anh ta nhảy phóc lên xe phóng đi, sau khi dặn dò:

“Ông chạy cẩn thận, có ngừng xe dọc đường nhớ đừng tắt máy. Tốt hơn là mai ông mang xe ra ga-ra cho họ rà lại toàn bộ một lần cho chắc. Chúc ông bà may mắn.”

Dĩ nhiên là sau đó ông lái xe rất chậm rãi, hồi hộp vì sợ xe dở chứng nữa thì ít, mà nghĩ về một “oan hồn” nào đó có thể đang luẩn quẩn nơi khúc đường gặp nạn thì nhiều. Ngồi cạnh, bà Lân chốc chốc niệm Phật. Chẳng ai dám nói ra ý nghĩ của mình về chuyện vừa xảy ra, có lẽ chúng cũng giống nhau thôi. Bất giác ông liếc nhanh vô kiếng chiếu hậu, biết đâu “nó” đang ngồi trên băng sau thì chắc cả người cả xe xuống ruộng…

Và cho tới bây giờ ông vẫn chưa hoàn hồn. Vợ ông đã lên lầu từ lâu, chỉ còn ông dưới nhà, căn nhà lạnh ngắt. Nhưng ông không vội. Thời giờ với ông như tiền của đại gia. Hai vợ chồng từ lâu đã ngủ riêng. Nếu người ngoài thắc mắc, ông nói vì ông có tật ngáy ồn ào sợ phá giấc ngủ của bà. Bà bảo là ông ghiền coi sách truyện, phim bộ cho nên ngủ riêng để coi cho mãn nhãn. Sự thực không hẳn thế. Cái giao ước sẽ nằm bên nhau tới mãn đời mà họ thủ thỉ với nhau trong chuỗi ngày thần tiên sau tiệc cưới là một giao ước hoàn toàn dựa trên tin cậy, không có những điều kiện “phải” hay “không được”. Dần dà, cả hai cùng nhận ra có những lần mình không tuân thủ những điều kiện “bất thành văn” này, và không biết tự khi nào – hình như từ khi căn nhà đã trở nên quá rộng và im vắng sau khi đứa con cuối cùng đã ra ở riêng vài năm – hai người đã tự nguyện chọn cuộc sống chung mà riêng này. Những tháng đầu, nhiều đêm ông còn nằm trăn trở lắng nghe tiếng động từ phòng bên, thỉnh thoảng nghe tiếng bà ngáy ro ro, ho hen, tiếng dép lê loạt soạt từ phòng ngủ ra phòng tắm hay xuống nhà dưới… thì đoán bà đang làm gì, còn bà thì mỗi lần đi ngang phòng ông, thấy ánh sáng lọt qua ngạch cửa và tiếng léo nhéo thì nghĩ là ông còn thức, vậy thôi. Có lần ông vào phòng bà, và hoàn toàn cảm thấy lạc lõng trước khung cảnh lạ lẫm khác hẳn trước đây khi hai người còn ngủ chung. Gần như mọi thứ đều thay đổi vị trí, trừ mấy cái tủ quần áo. Ông nhận thấy rõ ràng đây là giang sơn của riêng một người nào đó, không có ông trong đó. Rồi ông trở về phòng, để cũng nhận ra nơi này cũng là một lãnh địa riêng. Mọi thứ ông cần đều nằm trong tầm tay với. Sách và băng đĩa nằm theo một trật tự chỉ có mình ông biết. Dường như bà cũng chẳng thèm bước vô nơi đây, bởi dưới sàn đóng bụi còn thấy mấy mảnh giấy vụn vương vãi tự thuở nào ông chẳng nhớ. Ông thấy nhói trong tim một chút, nhưng rồi cuối cùng nhận ra là con đường một khi đã dẫn tới nơi này rồi thì khó mà quay lại…

“Mình phải pha một bình trà…”, ông tự nhủ, phải ngẫm lại xem coi có mối liên lạc nào giữa những sự kiện ngày hôm nay. Chẳng lẽ một điềm gở?

Nhóm bạn tụ họp tán dóc của ông thời cực thịnh có sáu gia đình, nhà họ không quá cách xa nhau. Mỗi tháng họ tụ nhau một lần, xoay tua. Lần lần, con số tụt xuống. Người này thoái thác bận coi nhiều cháu. Người kia bịnh. Người nọ dọn nhà. Người khác nằm xuống… Những cuộc họp mặt theo năm tháng cũng dần thưa đi, và chuyển đổi, rồi lại phải có lý do, không có hú suông như trước. Hồi đó… hồi đó còn ăn nhậu tưng bừng, bia khui không kịp, Tết ngủ lại bài bạc. Mấy bà động dao động thớt, chiên món này xào món nọ, nói chuyện rân trời. Rồi tới thời gian chuyển từ bia sang rượu, ngồi khề khà nhâm nhi và hát karaoke, thì lượng đồ ăn đã giảm xuống. Tới chừng có một số lâm bịnh mãn tính, hơn nửa số đã bỏ thuốc và rồi rượu uống có cữ, những thú vật chất đã dần vơi, thì chỉ còn ngồi tán dóc với nhau là chính. Chuyện vui buồn trong công việc làm ít còn nhắc. Chỉ còn những chuyện than thở bệnh tật, con cháu, để rồi trước sau cũng lại quay về những chuyện thời quá khứ vàng son, rồi chuyện tù tội cải tạo, chuyện lập nghiệp nơi đất mới… Ông thích ngồi nghe họ tán tụng nhau, nhất là nghe những chuyện vui ông Sinh mang ra kể cho đám tiệc. Ông Sinh trước kia ở cùng xóm, bốn năm trước, khi bà mất, ông dọn về nhà đứa con gái, để có người khuây khỏa, coi mấy đứa cháu cho hai vợ chồng nó đi làm… và sướng nhất – ông cười hì hì – đỡ khoản tiền mướn nhà.

Nhưng lần họp mặt cuối cùng, trong dịp nghỉ cuối năm ngoái, ông Sinh mời cả đám tới để thông báo chính thức là vài tháng nữa sẽ ăn cái Tết cuối cùng ở đây, và sau đó về Việt Nam ở luôn, coi như đây là buổi tiệc chia tay. Thằng em bên đó nài nỉ ông hoài, còn ông càng ngày càng thấm sự dằn vặt của nỗi nhớ quê, khi ông nhận ra vốn tiếng ngoại quốc của ông, vốn đã ít ỏi, nay lại bay dần. Mà ở tuổi ông, một khi chữ tây chữ u đã bay thì nó sẽ bay luôn, không bao giờ trở lại.

Vì thế, lần này ông Lân có cảm giác thật lẻ loi, mất đi người bạn thân. Và cũng vì thế mà câu chuyện trong buổi họp mặt đi ngay vào vấn đề xoay 180 độ của ông Sinh, một người ngang tàng nhiều năm hăng hái hoạt động nay bỗng dưng xếp giáp quy hàng. “Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu”, đúng vậy, nhưng có một nhà văn nào đó đã viết là “lòng hoài hương có sức mạnh đốn quỵ cả những người gai góc nhất”. Chắc chắn phải có lý do nào đó khiến ông Sinh một sớm một chiều bỏ cả mọi chuyện để nắm lấy lưỡi dao. Vì thế cả đám xoay qua truy ông Lân về chuyện này và hỏi thăm ông về tin tức người bỏ cuộc, đúng hơn là phản bội, từ cờ vàng nhảy sang cờ đỏ. Ông ừ à nói vẫn thế thôi, thằng Sinh nó khoe nuôi mấy con gà đá, chim chóc, phân gà phân chim thì đem bón vườn rau sạch cho cả nhà ăn trên sân thượng… Còn chuyện thiên hạ thắc mắc “có bà này bà kia hay không”, ông nói chắc nịch:

“Làm gì có chuyện đó. ‘Chị Năm’ còn chê nó, trâu này rụng hết răng rồi, cỏ non có dâng tận miệng mấy cũng chẳng cạp được.”

Dĩ nhiên người ta không tin, nhất là mấy bà, đang nháy nhó nhau và liếc mấy ông. Nhưng không thể tra hỏi thêm, chỉ để bụng. Quả thực, chỉ có mình ông Lân là biết rành rẽ ngọn nguồn. Thằng con rể của ông Sinh hai năm trước mất việc, vợ chồng nó xoay qua mở tiệm ăn, và thế là dần dần nó cần chỗ chứa đồ và nấu nướng những thứ có thể làm trước. Con gái ông đề nghị xây cho ông căn nhà chòi bằng cây phía sau, còn gian nhà phụ kế bên bếp nó sẽ dùng làm nhà kho. Nói là đề nghị, nhưng chúng nó đã đặt mua vật liệu từ lúc nào ông chẳng biết. Ông càm ràm, than căn nhà chòi lạnh lẽo, và cằn nhằn là nếu muốn nấu ấm nước cũng phải bước qua khoảng sân rộng, tức là lại phải trùm áo lạnh. Hai đứa làm luôn cho ông cái bếp đơn sơ trong đó, đúng ra là một cái lò điện gắn dính vô chiếc bàn có bánh xe đẩy tới đẩy lui, chỉ đủ chỗ nấu trà và làm mì gói. Ông tủi thân, thấy mình vừa mới bị đẩy ra ngoài xã hội, giờ như từ từ bị đuổi khỏi gia đình. Chỉ vì hiện giờ chúng nó ở nhà suốt, con cái lớn rồi, không cần người coi trẻ thường trực nữa nên mới nên chuyện. Những ấm ức đó đương nhiên ông trải lòng với ông Lân, người bạn tâm đầu, qua điện thoại. Một hôm quá bực ông buột miệng:

“Đm. Con với cái. Mình chắt bóp để dành được mấy chục ngàn cho tụi nó để chúng sang cửa tiệm mà giờ nó chơi kiểu này thì anh nói không ức sao được.”

Ông Lân phì cười:

“Anh đụ mẹ nó cả mấy ngàn lần rồi mà giờ còn chửi thề…”

Tưởng là hạ hỏa, ai dè lửa có thêm dầu:

“Đm. nó chứ, giận ơi là giận, không ói máu là may. Tui bỏ luôn xứ này về Việt Nam chết mẹ nó cho rồi. Nuôi chúng nó bao nhiêu năm mà giờ chúng nó trả ơn như vậy hả?”

Vì thế ông Lân mới biết là ông em của ông bạn rủ ông anh về cùng vui tuổi già. Và ông đã làm thật. Lại làm quá nhanh như cố trốn chạy sự thực phũ phàng. Nhưng giữa bàn tiệc hôm nay thì ông không nói, vì ông nghĩ tới hoàn cảnh của ông. Thật là trái ngược. Mấy năm trước ông đã có ý định chân trong chân ngoài, mùa hè ở bên nây, mùa đông ở bên nớ. Kỳ về thăm nhà mới đây nhân dịp đám cưới đứa cháu gái, ông ướm lời người em dành căn phòng trống đó cho ông. Vợ chồng nó đẩy đưa lấy cớ này cớ nọ. Ông mượn rượu để nổi sùng và bảo thẳng:

“Hồi đó vợ chồng tao bỏ tiền cho tụi bây sửa nhà sửa cửa giờ vợ chồng tụi bây chơi vậy đâu có đẹp.”

“Anh đâu biết, kỳ anh đi vượt biên đó, tụi em ở nhà xất bất xang bang với mấy thằng công an, hết phường tới quận đến nhà tra hỏi. Kế tới xin đi làm không ai dám mướn, mấy đứa con đi học cũng bị làm khó dễ,” thằng em đốp lại.

Hai vợ chồng nó mặt xưng mày xỉa, ông biết đã thua đậm keo này, và biết từ giờ có về thăm quê hương cũng khó ở trọ nhà chúng nó. Ông chôn nỗi buồn và sự căm giận xuống đáy lòng, sống để bụng chết mang theo. Với mọi người, ngay cả với bà vợ, ông tuyên bố ngon ơ:

“Giờ về bên đó nắng nôi bụi bậm quá, đồ ăn thì dơ dáy, chỗ nào cũng thấy bất công. Ngoài đường thì không có an ninh, xe cán chết người hà rầm. Tui hổng thèm về nữa. Chết bên này cho rồi.”

Ông không ngờ câu tuyên bố đó của ông đã nhanh chóng chuyển đổi đề tài tranh luận trong bàn nhậu trưa nay thành cuộc tranh cãi về chuyện hồi hương và đương nhiên kèm theo đó là lập trường chính trị. Dĩ nhiên, có sự giống nhau giữa những bạn nhậu trên bàn tiệc và các chính trị gia trong chính trường, là những cuộc tranh luận lúc nào cũng nẹt lửa để rồi rốt cục lại chẳng đưa ra một kết luận gì ra hồn. Còn đằng sau, rất có thể ẩn náu những động lực khác. Như giờ đây, những người đã chắt mót mua được một miếng đất hay một căn chung cư ở quê nhà đứng về một phe. Còn lại phe kia là những người đương nhiên chống lại. Nhất là họ vừa nói với nhau về một ông nào đó sau chuyến về thăm nhà đã phải vô ngay bệnh viện vì họ phát hiện ung thư bao tử. “Hóa chất tụi Trung Cộng đầu độc dân mình chứ còn ai vào đây nữa.”. Mọi người xô vào phê phán, người kết tội, kẻ chống chế, ngoại trừ ông, bất đắc dĩ phải đứng về phe chống vì đã lỡ cương bậy, giờ chỉ đành ngồi nghe và nuốt hận. Ông chợt nghiệm ra nhân tình thế thái. Người nào cũng cố bảo vệ con đường mình theo với viện dẫn một cách rất ruồi bu. Người có học thầm khinh miệt hạng có tiền là không có danh giá, lừa lọc mánh mung. Người trọng kim tiền vênh váo đã có được cuộc sống vật chất sung túc, và khi mũ áo vào thì danh vọng nào có kém ai.

Thời may, cuộc đấu khẩu hùng hổ chợt chuyển hướng khi có ai đó bỗng dưng nhảy sang chuyện trong trại cải tạo, và cũng như mọi lần, mọi người tìm được sự đồng thuận trong việc nhắc lại những kỷ niệm vui buồn khoảng thời gian đó. Những chuyện họ trao đổi với nhau ông Sinh đã nghe đầy lỗ tai, vì thực ra cũng chỉ mấy chuyện đó thôi. Không còn tù nữa thì làm sao có chuyện mới để kể. Mà chuyện cải tạo với ông như chuyện ở thế giới khác. Ông chẳng bị tù tội ngày nào. Ba ngày học tập cho ông thấy được số may mắn của mình. May mắn chưa đụng trận lớn ngày nào, nhờ tài sửa xe thần sầu lúc nào ông cũng loanh quanh luẩn quẩn trong bộ tư lịnh. May mắn có nghề mọn nuôi thân và nuôi được cả gia đình sau cuộc đổi đời. Nhưng những lúc như bây giờ ông cảm thấy cô đơn lạ kỳ, vì không góp được gì cho những cuộc vui sau bữa tiệc. Chẳng lẽ lại đem những chuyện khuất tất trong quân đội ông đã làm ra kể cho chúng khi dễ, mặc dầu trong những năm khoác bộ treillis ông đã thấy thiếu gì những tên lon lá cùng mình mà cũng tệ hại chẳng kém gì ông. Bởi thế, ông chỉ ngồi nghe và thấy nhớ ông Sinh vô hạn. Chắc phải về thăm nó một chuyến, ông tự nhủ. Nhưng biết đâu chừng ông bạn Sinh này cũng đổi khác, ông sợ vậy. Thú thực nghe ông Sinh nói chuyện mà phát nản, chim chóc gà qué vườn tược không làm ông phấn khởi chút nào.

Cảm giác xa lạ trước đám bạn nhậu làm ông Lân thấy như mình bị vây quanh bởi những bức tường vô hình, và khổ thay, mỗi ngày chúng như xiết chặt hơn. Người ngồi đối diện ông bỗng nhắc lại một chuyện khôi hài mà ông đã từng nghe nhiều lần:

“Mẹ bà nó. Đi lao động cả ngày mệt thấy mồ mà buổi tối nó còn kêu lên hội trường coi phim. Nghe cái tựa thì hấp dẫn. “Mười Một Niềm Hy Vọng”, tưởng là phim tình cảm gì đó cho mình nuôi chút hy vọng có ngày về chớ, ai dè chỉ có chuyện đá banh. Rồi “Đến Hẹn Lại Lên” chẳng thấy hẹn hò gì hết, chỉ có mấy thằng mấy con bộ đội hát quan họ với nhau…”

“Anh nói vậy chớ bây giờ coi lại và xét về mặt nghệ thuật thì nó cũng hay lắm chứ,” người khác cãi. “Nhất là Như Quỳnh đóng hay không tưởng…”

“Lại một tên ăn phải bả,” – bây giờ đúng là rượu nói rồi.

Cảm thấy không khí sẽ trở nên gay cấn sau lời nhận xét này, ông Lân vội bấm bà vợ cáo từ ra về. Họ được chủ nhân dúi cho một túi mấy món đồ ăn còn dư. “Hẹn lần sau gặp,” ông nói, trong khi thầm nghĩ sẽ chẳng có lần nào nữa đâu. Vả lại thâm tâm ông cũng muốn chạy ngay về nhà để xem Như Quỳnh đóng phim ra sao.

Nhớ tới đây, ngó lại ấm trà đã cạn, ông lên phòng, chui vào trong chăn và mở computer kiếm tìm. Đây rồi. Chưa được mười phút, ông chợt nhớ ra: “Chẳng phải con Như Quỳnh ca sĩ…” Nhưng ông không tắt máy mà nằm suy tư. “Đến Hẹn Lại Lên”, ông mỉm cười. Cái tựa hay đấy chứ. Lần sau đám bạn ông có hú nhau tới nhậu nhẹt chắc mình cũng đi thôi. Cho nó bớt buồn. Bà có đi theo hay không cũng mặc. Ở nhà điệu này hoài chắc khùng luôn…

Mãi miên man chạy theo mạch suy tưởng, ông đi vào giấc ngủ khi nào không biết, với màn hình còn sáng.

Nguyễn Hiền

 

Về Vùng Nắng Ấm

Nguyễn Văn Sâm

Con đường trước mặt  yên tĩnh. Những chiếc xe nằm im lặng kế đuôi nhau sát lề từ xa coi thoáng qua như mấy con rắn khổng lồ đương ngủ kỹ sau khi ăn no kềnh bụng. Khung cảnh im ắng của buổi sáng sớm khi mặt trời còn ngủ với một chút sương mù lừng lững quyện trên đầu có sức hấp dẫn kỳ lạ khiến già Được chạy xe lòng vòng trên những con đường nhỏ ít xe cộ, cố tìm một chút thư thả để tránh sự bực bội trong lòng khi những suy nghĩ về một quyết định hơi khó khăn lúc tuổi già. 
Vùng Garden Grove, Santa Ana, Midway City, Anaheim, trung tâm người Việt của tiểu bang nắng ấm California. Ngó vô những căn nhà mà bên hông hoặc xum xuê những bụi thanh long sai trái, hoặc vài ba cây cam oằn nhánh, hay mấy cây chanh trái lớn bằng nắm tay vàng lườm, hay chắn chắn hơn, một bụi chuối với lá hình phướng quen thuộc quê nhà, già Được biết rằng nơi đó gia đình một người đồng hương đương cư ngụ. Và dĩ nhiên là ông/bà ấy hằng ngày kiếm chút thời giờ giữa hai công việc phải làm để bón gốc, tỉa cành tưới nước cho công trình mình, một chút đỡ nhớ quê cộng với một chút thanh nhàn. Thật ra già Được muốn dời nhà xuống đây lâu rồi, vùng sa mạc đồi núi khô cằn trên kia chỉ thích hợp khi người ta còn có thể lái xe phom phom vững tin mình vẫn còn đủ phong độ trong phản ứng. Bây giờ với số tuổi ngấp nghé tám mươi, lái xe đường xa xuống khu đô hội của người Việt hằng tuần là cả vấn đề. Phải di chuyển thôi, dầu rằng đụng vô chuyện nầy là có bao nhiêu điều phải giải quyết. Bà vợ thường nói là quyết định mau quá, nhà bán đổ bán tháo như đá gà thấy thua trước mắt quăng bắt vớt ăn ba ăn tư giờ chót.  Nghĩ tới đó già Được cười cười một mình, liếc qua người ngồi kế bên.
Không gian buổi tinh sương còn đượm mùi thơm nhẹ nhàng của cây cỏ, già Được mở cửa kiếng xe xuống phân nửa, hít thở không khí trong lành. Có chút gì thân mật trong cảnh trí còn đượm lại trong tâm tư lúc còn nhỏ ở Sàigòn hiện ra với khu nhà thương Grall êm đềm của những hàng cây dái ngựa rợp lá, của đám me dốt xanh cành cao vói tới mây xanh gần Sở Thú. Và những con đường chung quanh khu Thi Sách sau tòa nhà Quốc Hội, mang tính cách thanh bình và quý phái nữa!
Ông quay qua nói với vợ:                                                                                     
‘Em coi đường phố sạch sẽ, không có những bảng treo văn hóa, quyết tâm cái cóc khô gì hết mà kiếm đỏ mắt cũng không thấy những đống rác đổ bậy, càng không có những kẻ vạch quần tự nhiên phóng uế ra đường.’
‘Xứ văn minh, người ta làm theo luật, công chức công nhơn làm hết bổn phận thì chẳng những đường phố sạch mà những chuyện trái tai ngứa mắt cũng ít xảy ra.’
Trí nhớ già Được đi ngược về miền xa xôi của tuổi trẻ và chuyện thực tế ông chứng kiến trong kỳ về quê ăn Tết vừa qua.  Khắp nơi cờ đảng, cờ nước đỏ đường. Mấy hôm Tết chẳng những đầy mưa sa trên nền cờ đỏ mà đi đâu cũng thấy rác rưới hôi thúi bên dưới tấm biểu ngữ kệch cỡm ‘Mừng Đảng, Mừng Xuân…’.
Mải mê suy  nghĩ, già Được để xe mình chạy vô đường cao tốc 22, ông chép miệng lầm bầm ‘kiểu nầy cũng là biểu hiệu của tuổi già tới kế bên chưn, làm mà không có chủ ý’. Xe cộ hơi nhiều tuy rằng hầu hết đều đúng luật và rất thân thiện nhường làn xe khi mình để đèn báo hiệu.  Chợt thấy tấm bảng lớn trên lề in hình một tên khỏe mạnh, mặt bậm trợn, đương gồng gân bịt miệng một người ốm yếu, chuyện xảy ra trong một phiên tòa gây nhiều tai tiếng bên nhà,ông buột miệng hỏi vợ:
‘Em biết chuyện ngày trước Cai Nên đánh người rồi bị đánh trả không?’
‘Cách đây cả thế kỷ rồi, hình như ông nầy đánh nhà cách mạng Tạ Thu Thâu hay Phan Văn Hùm gì đó.’
‘Ừa, thằng chết bầm nầy đánh ông Phan Văn Hùm. Chuyện xảy ra năm 1928, ông Hùm đi Bến Lức định diễn thuyết chống thực dân, Cai Nên, tên chó săn của chánh quyền thực dân ngoại quốc lúc đó được lịnh cản mũi cản lái, bị cự cãi, hắn ta tức khí đánh ông Hùm và bị ông đánh lại…  Dĩ nhiên là ông Hùm bị bỏ tù vì ‘chống đối người thi hành pháp luật’. Nhưng rồi Cai Nên cũng bị sa thải sau đó không lâu, về nhà đuổi gà cho vợ. Chuyện ruồi bu nầy thì nhiều người biết.’ Với nụ cười nửa miệng thích thú, ông kể thêm. ‘Tức cười là năm nào cách đây gần bảy chục năm, lúc đó anh đâu chừng độ mười tuổi, theo bà con đi về chơi vùng Bà Điểm. Người dân ở đây chỉ cái mả nói là của Cai Nên. Mả không lớn nhưng sạch sẽ, coi ngon lành hơn các mả lạn bên cạnh. Anh len lén lên trên đó đái mỗi ngày vài ba bận. Đái vẽ rồng vẽ rắn mà khoái chí.’
Người đàn bà xẳn xớm:
‘Quậy trời thần dữ he!’
Già Được làm thinh, chăm chú hơn vô tay lái. Những chuyện có vẻ con nít, dơ dáy, thường không được đàn bà hoan nghinh. Ông im lặng suy nghĩ khi nhớ tới hình ảnh những lá cờ máu treo  bên trên và người dân đổ rác đầy tràn bên dưới. Chắc cũng là một sự phản đối ngầm được vô thức điều khiển như mình lúc nhỏ, ông đi đến kết luận và mỉm cười với mình.
Người vợ trở về thực tế:
‘ Sống cho có  căn nhà khang trang, chết cho có nấm mồ coi được được một chút với người ta!’
‘Ờ có căn nhà khang trang thì được, nhưng không nhứt thiết phải có nấm mồ coi được được. Biết bao nhiêu người chọn thiêu xác, hiến xác. Trước đây trên đường tìm tự do gần triệu người vùi thân thủy mộ… Nhưng mà thôi, nói về chuyện mồ mả buồn lắm!’
Già Được thở dài, ông không muốn mở ra thêm một cuộc tranh luận mới.  Tranh luận về dọn nhà hay không, dọn về vùng nào, mua hay mướn, mua thì chừng bao nhiêu tiền, dọn thì lúc nào thuận tiện…cũng đã làm ông nhức đầu rồi. Thêm nữa, đồ đạc những gì cần để, những gì cần bỏ. Bán hay cho, bán thì giá nào, cho thì cho ai. Ôi! Bao nhiêu là vấn đề đặt ra, không dễ dàng gì được đồng thuận.
Có tiếng điện thoại kêu vang. Người bạn mới quen không lâu, chẳng thân thiết chi mấy gọi hướng dẫn cách sống ở đây. Vợ chồng nên làm giấy ly dị, giả tách ra làm hai mới lãnh được tiền già nhiều hơn. Có thể sau nầy xin housing mỗi người một cái, cho thuê lén hay share kiếm thêm. Có địa chỉ rồi thì đi bác sĩ người mình để dễ xin thuốc nầy nọ dư gởi về cho bà con nghèo khổ bên nhà làm phước.
Già Được xin lỗi để tắt máy. Mấy cái vụ mánh mung nầy nghe chói tai mà cứ bị nghe hoài. Bực mình bực mẩy. Một kiểu tham lam lường gạt lòn lách. Bên kia đầu dây cố gắng nói thêm.  ‘Anh gần tám chục tuổi dễ xin y tá phụ đến nhà giúp đỡ. Xin được người mình thì điều đình với họ khỏi tới làm, tiền lãnh chia hai. Thiên hạ chơi chiêu nầy đầy trời.’ Già Được tắt máy không vị nể với câu nói xốc hông: ‘Cám ơn anh, anh giỏi quá! Tôi thì chịu thua không làm được chuyện kỳ cục đó!’ Tiếng giỏi quáchịu thua được Già nhấn mạnh.
Người ta thường thích làm tài khôn dạy cho người khác chuyện phi pháp. Ông nầy xúi giục mình tạo thêm một chút tham lam cuối đời để mang nặng Nghiệp trước khi Về. Đối với người biết an nhiên thì thêm một chút nữa cũng chẳng ích lợi gì. Không hưởng bậy những thứ thêm đó thì đã có ai chết đói đâu?
Ông quay sang hỏi vợ:
‘Em có coi một bài trên internet của một thức giả bên Đức kêu cứu rằng xin đừng làm xấu người Việt Nam không? Bên đó thiên hạ xuất nhiều chiêu gian lận tiền bạc mà còn đem những thói hư tật xấu ra đường như nói lớn tiếng trong điện thoại, ồn ào chen lấn nghinh ngang trên tàu điện, quần áo xốc xếch, phun nhổ bừa bãi, ngoáy tai, móc cứt mũi nơi công cộng…’
‘Có! Bên nầy mấy tật xấu đó tương đối ít hơn hay gần như không có…’.  Trầm ngâm một chút người đàn bà nói thêm:
‘Tuần trước đi mua bánh mì ở đây, em bị một bà son phấn lòe loẹt ào ào chạy vô, vẹt mọi người bất câu lớn nhỏ để tới trước quầy kêu người bán hàng bán cho hai ổ, giọng bà ta nghe bắt thấy ‘thương’. ‘Mau lên em ơi, chị đậu xe trước cửa sợ bị phạt…’ Cả đoàn xếp hàng không ai nói gì nhưng chắc là thấy ngán ngẩm chuyện bà ta làm như vậy. May là bữa đó không có người Mỹ nào, nội cái nhìn trố mắt và cái lắc đầu thở đài của họ cũng thấy mắc cở rồi.’
Mỉm cười với vợ, Già Được  nói buông xuôi:
‘Thì ai cũng có lý do khi làm chuyện trật chìa. Người bạn hồi nãy thường nói với mọi người là ‘Túng thì phải tính’. Mình làm vậy vì Nghèo. Cái Nghèo được đưa ra làm lý do tế thần để che cái Tham.’
Nghĩ tới chuyện lùm xùm về cấm đoán di dân của ông Tổng Thống đắc cử bằng phiếu của cử tri đoàn, già Được  bực bội nói một hơi:
Khi người ta làm chuyện gì đó nghĩ là không được đúng thì cái cớ đưa ra cho mọi người thấy chỉ là cái cớ giả. Thế kỷ trước người Tàu bị cấm vô nước Mỹ vì bị gán cho là dơ dáy, thiếu văn minh. Biết đâu sau nầy vài sắc dân châu Á bị cấm vì gian lận những chương trình lợi ích và gian tham như không đóng thuế khi buôn bán thức ăn, nhà hàng, tiệm nail… tới tuổi gần già thì sang nhượng tài sản lại cho con cái để được hưởng đủ mọi thứ…. Chuyện họ làm như chó ăn vụng bột, ai cũng thấy cũng biết huống gì chánh quyền, tại vì chuyện nầy chuyện kia nên người ta chưa khui ra thôi. Anh ‘xi nẹt’ với anh chàng mau miệng hồi nãy cũng vì lẽ đó. Anh không muốn dân ở đây dán một cái nhãn xấu cho người mình. Bị dán nhãn thì biết bao nhiêu là bất lợi cho người đồng chủng đến sau.
Người vợ gật đầu đồng ý:
‘Vậy đó! Có bao nhiêu ăn bao nhiêu hơn là có khả năng chi tiêu rộng rãi một chút mà lo đau đáu…’
Thấy vợ vui vui anh tấn công luôn về chuyện dời nhà.
‘Em nghĩ sao? Vùng nầy mình vui thú tuổi già được chớ? Hay là mình di chuyển xuống đây, càng sớm càng tốt?’
Người vợ đồng ý nhưng không nói rõ ràng ý của mình:
‘Xuống đây em có thời giờ như nhóm bạn của em, hằng tuần đi thăm người già trong nursing home. Họ tội lắm, thấy người đến thăm là vui mừng lộ ra mặt, có người còn rơi nước mắt. Hát hò cho họ, nói chuyện nầy nọ, cắt móng tay móng chưn cho những ông bà quá yếu khiến họ cứ bịn rịn không cho mình về…’
Già Được chộp dịp nịnh vợ:
‘Em nói như vậy thì Tâm em là Tâm thiện. Tốt lắm. Đúng ý anh. Tâm thiện thì Nghiệp chướng nặng mấy cũng thành nhẹ. Và tâm hồn thì thanh thản.’
Ông muốn nói thêm câu mà ông thường tự hào kháo khía với bạn bè: ‘Đàn ông có hồng nhan thì nhiều. Vợ chồng tri kỷ cũng không phải thiếu. Tôi vừa có hồng nhan vừa có tri kỷ. Nhưng thôi, anh sợ những lời khen quá đáng trở thành cái lổ mội trên ghe, sẽ làm cho ghe chìm trong đường dài…’
Trời tưng tửng sáng. Một vài người đi làm sớm đã lái xe ra đường. Bên lề dành cho người đi bộ hai người đàn bà dắt hai con chó đi dạo để khỏi túng chưn túng cẳng. Cặp chó đùa giỡn coi bộ khoái chí.
Già Được lái xe về phía biển Huntington Beach. Chắc phải ra biển hóng gió một chút. Đi bộ trên bờ cát nghe tiếng sóng rì rào, hít cái hương nồng vị mặn của buổi sáng yên bình bên nầy đại đương chắc ‘không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc.’
Già Được kiếm chỗ đậu xe. Hai người xuống cát, đi lần tới cầu cảng. Trời tuy còn sớm, mấy dàn khoan ngoài khơi chưa hiện ra, cả dãi núi phía bên kia vịnh chưa chịu ló mặt nhưng mấy tay câu cũng mấp mé thùng cá ‘chiến lợi phẩm’. Những gương mặt nắng gió lầm lì, không vui không buồn, đa phần là người mình, câu để giải khuây đở nhớ quê nhớ biển vậy thôi, kiếm thêm tô canh chua nấu mẳn hay ơ cá kho quẹt trên mâm cơm thịt thà ê hề đến thừa mứa ở xứ người… Bà vợ hỏi vói một người câu khi anh ta kéo lên con cá bóng láng vẫy vùng tuyệt vọng trên móc. ‘Chia ít cá về ăn anh ơi? Bi nhiêu? Bi nhiêu cũng được mà’. Sự mua bán dấm dúi diễn ta thiệt mau vì người đi câu sợ bị ‘treo cần’ mất cả thú vui khi nhìn sợi dây căng bên dưới lúc cá cắn câu.
Ờ mà niềm vui có gì lớn lao lắm đâu trong cuộc sống chập chờn này, những cái được mất đồng thuận với nhau trong lòng bao dung hỉ xả, như người đi rà kim loại trên bãi cát kia, anh ta cứ lầm lũi quơ cái cây có gắn nam châm qua lại trên cát bằng sự kiên nhẫn đến kinh ngạc người bàng quan. Cái máy kêu tít tít và anh xúc lên một cent trong ánh mắt vui, thay vì sự thất vọng cho công khó nhọc của mình… Ở đời mà, biết bao nhiêu cho đủ! Bà vợ giả bộ đi vòng vòng dưới bờ biển, mấy đồng bạc cắc rớt lấp loáng dưới chân, có đáng g ìđâu mà thấy vui trong bụng.
Sóng ầm ì xa xa, biển dâu thay đổi, bên kia trùng trùng là quê hương mình bây giờ đã đổi thay,lạ lẫm đến chua xót. Gió thổi phất phơ mái tóc bạc trắng của cặp vợ chồng già tha hương. Già Được thấy bàn tay mình được đan vô những ngón tay khô nhiều xương của vợ. Chuyện dời nhà xuống vùng nắng ấm này già biết đã được duyệt y, chấp thuận. Ý nghĩ nhà ở đây ủm thủm mà giá cao ngất trời không còn ám ảnh cản trở ai nữa.
‘Biển đẹp thiệt’, già Được nói trong khi xiết mạnh mấy ngón tay.
 

Nguyễn Văn Sâm

(Victorville, CA. Rằm tháng giêng con Gà 2017)

Tôi đi mổ tim

Nguyễn Đức Trọng

Lưu ý: Bài viết chỉ nhằm chia sẻ một kinh nghiệm để đời khó mà quên, cùng góc độ nhìn chứ không nhằm chữa bệnh.

Ngày đi mổ, giờ hẹn là 7 giờ sáng nhưng bệnh viện yêu cầu đến sớm hai tiếng để làm thủ tục. Kết quả là phải để đồng hô báo thức lúc 3 giờ sáng hầu có đủ thời giờ mà tập thể dục, tắm xà phòng như bác sĩ mổ yêu cầu, không sức dầu thơm, không xoa kem dưỡng da, rồi xoa “antibiotic ointment” trên môi và trong mũi trước khi rời nhà, v.v. Nhóm bác sĩ mổ tim của bệnh viện Inova Fairfax Hospital đã viết xuống giấy, dặn dò cẩn thận mọi chuyện cũng như đưa cho một quyển cẩm nang để bệnh nhân và người nhà an tâm trong ca mổ, cũng như hiểu rõ mọi giai đoạn từ các chứng bệnh về tim, việc chữa trị, thời gian bình phục, thực đơn nên theo sau khi mổ, xác suất khỏi bệnh, xác suất tử vong, v.v.

Bệnh viện yêu cầu có ít nhất một thân nhân đi theo để có gì còn làm quyết định thay cho bệnh nhân. Phần tôi chỉ có cô hàng xóm đi theo, những bệnh nhân khác được cả ba, bốn người đi tháp tùng cho lên tinh thần. Tôi không lo lắng với kết quả vụ mổ vì đã chấp nhận, nhưng cô hàng xóm chắc chắn là lo đến mất ăn mất ngủ cả tháng qua, vì tôi từ chối không chịu đi mổ liền sau khi bác sĩ khám phá là tôi bị nghẹt 100% trên hai mạch chính (main artery) đưa máu trở về tim. Chưa kể vẫn đi du lịch, dù bác sĩ khuyên ở nhà. Mạch bên phải quả tim bị nghẹt làm thiếu máu cung cấp cho hai lá phổi và đó là lý do hay bị ho, sưng phổi, bị ách xì mổi khi khí hậu thay đổi, hơn xa một người bình thường. Bên trái mạch trước quả tim bị nghẹt khiến toàn bộ cơ thể bị ảnh hưởng.

Sau khi làm các thủ tục giấy tờ xác định tôi đúng là bệnh nhân của ca mổ tim, tôi được cho vào ngồi trong phòng chờ để y tá cân đo và hỏi đủ mọi chuyện liên quan đến sức khỏe. Các bác sĩ, y tá trong nhóm mổ lần lượt xuất hiện và đến bắt tay cùng tự giới thiệu. Bác sĩ trưởng nhóm mổ thông báo cho biết là với các hình chụp quang tuyến mới nhất, chụp hai ngày trước, cho thấy là ngoài chuyện hai mạch máu bị nghẹt, quả tim của tôi lại có một bọc trắng chứa nước khá to nằm che phía trước. Do đó trước khi làm câu dẫn cho hai mạch máu bị nghẹt, một bác sĩ tim khác sẽ phải cắt và lấy đi cái bọc trắng đó (heart cysts). Thời gian mất thêm cho vụ mổ có thể là 15 phút. Hỏi ra mới biết là cái bọc trắng đó là do bẩm sinh, không phải ai cũng có. Nếu không có vụ mổ tim, bác sĩ có thể chỉ châm kim vào và rút nước trong bọc ra là xong. Nay nhân ngực được mở, bác sĩ sẽ cắt bỏ cái bọc đó luôn và thử nghiệm xem có bị ung thư hay nhiểm trùng gì chăng.

Tôi chỉ nhớ đến đây với câu chuyện chờ đợi mổ vào buổi sáng. Khi mở mắt ra thì thấy cô hàng xóm đang đứng trước mặt và quơ tay qua lại hỏi tôi có biết ai đây không. Tôi tức cười quá bảo là cô chứ ai. Sau đó y tá xuất hiện cho biết là ca mổ của tôi đã xong với kết quả rất tốt, cho biết là tôi đang ở phòng hồi sinh (ICU), rồi hỏi tên tôi với ngày sinh, và có biết là tôi đang ở đâu không. Đây là họ muốn kiểm lại là trí nhớ của tôi có bị ảnh hưởng chi không với thuốc mê trong vụ mổ. Thấy tôi trã lời rõ ràng mọi câu hỏi, họ an tâm cho tôi nước uống, đắp thêm mền ấm như tôi yêu cầu. Họ cho biết là nếu tình trạng tiến triển khả quan, tôi sẽ được chuyển ra phòng bình thường nhưng rộng hơn vào tối nay.  Phòng ICU thì một y tá trông nom cho một bệnh nhân 24/24, ngoài phòng thường thì một y tá trung bình trông 6 bệnh nhân hay hơn.  Để theo dõi tình trạng bệnh nhân mới mổ, tôi sẽ phải nhịn ăn cho đến sáng mai, uống nước thì được. Vì thấy tôi đã tỉnh, không có quờ quạng chi, nên hai bàn tay của tôi được tự do, không bị buộc chặt xuống giường như vài bệnh nhân khác. Họ chỉ yêu cầu tôi nằm yên tại chổ, cần chi thì bấm nút gọi y tá, ngay cả chuyện tiêu tiểu.

Cô hàng xóm tiếp lời cho biết là tôi được đưa vào phòng mổ lúc 7 giờ hơn chút, và đến 10 giờ 30 thì cô y tá trong phòng mổ gọi ra cho biết là ca mổ thành công, chỉ mất có tổng cộng ba tiếng rưỡi, thay vì từ 4 đến 6 tiếng như dự tính. Họ sẽ đưa tôi ra phòng ICU, sau khi đóng lại vết mổ và lau chùi sạch sẽ. Hỏi tôi cảm thấy thế nào, tôi cho biết là ngực thì hơi đau nhưng không đến nổi phải la làng, chỉ có hơi khó chịu vì thấy ống cắm đầy người cùng các vết băng. Cô y tá cười và cho biết là tôi phải chịu như vậy trong những ngày ở bệnh viện chờ hồi phục. Nhưng sẽ được tháo bỏ ra từ từ trong vài ngày sắp tới.

Nhân dịp cô y tá rảnh rang và trông cô vui vẻ trã lời các câu hỏi, tôi bèn hỏi thăm về từng vết băng trên người cùng những giây ống hiện đang nối đầy người. Nhờ vậy tôi mới liên kết được việc mổ tim của tôi, cũng như ý nghĩa của của chữ “open heart surgery” là thế nào. Khi một mạch máu của tim bị nghẹt, nếu chỉ nghẹt từ 40 đến 60% thì bác sĩ sẽ cho bệnh nhân uống thuốc loảng máu và trợ tim, cùng khuyến cáo cải thiện việc ăn uống như ăn ít đi, bớt lượng thịt đỏ, dầu mở, v.v. Nếu nghẹt từ 60% đến 80%, thì khi làm soi tim thử nghiệm, bác sĩ sẽ bơm bong bóng làm thông nơi bị nghẹt và sau đó đặt vào một vòng xoắn (stent) hầu giúp mạch máu nơi đó vững chắc hơn. Còn nếu mạch máu bị nghẹt từ 80% đến 100% thì phương pháp chữa trị duy nhất hiện nay được hiệp hội y khoa chấp nhận là dùng 1 tỉnh mạch khác trong người để câu dẫn cho máu đi vòng qua chổ bị nghẹt (by-pass surgery).

Xin mở ngoặc ở đây để nói về một phương pháp mới làm thông mạch tim dù đã bị nghẹt 100%. Phương pháp mới này do trường đại học y khoa Boston đề xướng. Họ chuyền vào máu một loại thuốc làm mềm phần bị nghẹt. Sau đó dùng các dụng cụ thông tim đi đến nơi bị nghẹt và dùng một mũi khoan xuyên qua, rồi rút các chất dơ làm nghẹt ra khỏi mạch máu. Sau đó chỉ việc đặt vòng xoắn (stent) vào đó là xong.  Một bệnh viện vùng Florida đã thử nghiệm và thành công với 6 bệnh nhân, nhưng khổ cái là phương pháp này vẫn chưa được chuẩn nhận với hội y khoa Hoa Kỳ. Mà chạy đi xuống Florida xin được làm vật thí nghiệm với phương pháp này cũng quá khó khăn cho một người ớ xa, nên tôi chào thua.

Nếu nơi bị nghẹt nằm ở trên một mạch không quan trọng, ví dụ như chỉ một hoặc hai nơi ở mạch bên phải, bác sĩ giải phẩu có thế áp dụng phương pháp giải phẩu vi tiểu để câu thông mạch máu bằng nhưng dụng cụ thật nhỏ đi kèm với thâu hình. Trong trường hợp này, bác sĩ không cần cắt mở lồng ngực bệnh nhân, không cần cho tim phổi ngừng đập, mà chỉ cần soi ba hay bốn lổ nhỏ chung quanh khu vực tim bị nghẹt mà thôi. Như vậy thời gian vết mổ được lành và sức khỏe phục hồi sẽ thật nhanh.

Trường hợp của tôi vì hai nơi bị nghẹt đều năm trên mạch chính, một bên phải và một bên trái, bác sĩ cho biết là không thể nào áp dụng giải phẩu vi tiểu được mà phải áp dụng phương pháp thông thường là họ sẽ cưa xương giữa hai lồng ngực, rồi banh ra (giống như chúng ta đội chiếc xe lên lúc thay bánh xe vậy), để có thể thấy quả tim rõ ràng. Sau đó, máu sẽ được rút hết ra cho vào một bình chứa, cùng lúc các mạch máu trong người sẽ được nối vào một cái máy “heart and lung machine” sẽ bơm một dung dịch thay thế máu và khí oxy nuôi dưỡng các bộ phận khác trong người như bộ óc, thận, gan, v.v. Còn quả tim và phổi thì được cho nằm yên để bác sĩ dùng một tỉnh mạch cắt dưới chân đem lên để câu thông qua nơi bị kẹt. Nhờ có cái máy “heart and lung machine” này, cùng việc để quả tim và phổi bất động, việc câu thông mạch máu của quả tim trở nên dễ dàng, ít có tai nạn xãy ra bất ngờ đưa đến chuyện xuất huyết, kích tim, đứt mạch máu não, v.v. và đưa đến tử vong. Đó là chưa kể việc gây mê đã được dùng một liều nhẹ hơn và liên tục thẳng vào máu, thay vì một lần thật nhiều khi bắt đâu mổ rôi thôi, đã khiến nhiều bệnh nhân yếu trong người đã ngủ luôn không dậy nữa. Mặc dù bác sĩ mổ cho biết xác suất tử vong là 1%, nhưng theo thống kê thì con số đó thấp hơn nhiều. Có thể còn thấp hơn một phần ngàn.

Sau khi đã làm xong việc câu dẫn mạch máu, dung dịch nước biển cùng các ống nối trên người bệnh nhân sẽ được rút ra. Máu sẽ cho chạy vào trở lại. Tim và phổi sẽ được kích thích cho đập trở lại từ từ như bình thường. Khung xương lồng ngực được cho về lại vị trí cũ, bác sĩ sẽ dùng một sợi dây kim loại để nối sát hai khung xương lại với nhau, cùng dùng một loại keo đặc biệt giữ chặt hai khung xương và kích thích xương tăng trưởng cho mau lành. Sợi dây kim loại này (sternal wires) không có phản ứng với máy báo động nơi kiểm soát an ninh ở phi trường, vậy các bạn đừng lo nha. 🙂

Nhìn vết mổ nơi ngực dài chừng 20cm, tôi thấy cũng hơi ớn, nhưng lạ là không thấy vết may hay băng lại gì hết. Cô y tá cho biết vết may nằm ở bên trong nên không tạo thành vết sẹo lớn như trước. Ngoài ra, nhờ môi trường trong bệnh viện trong sạch, vết thương không cần băng lại và như vậy sẽ mau lành hơn. Bên dưới vết mổ, tôi thấy có ba cái ống đường kính chừng 15mm đi vào trong người, cô y tá cho biết đó là ba ống hút giúp đưa ra ngoài những huyết dịch, huyết tương chảy ra từ các vết mổ, cắt vá bên trong người. Ba cái ống này thật làm phiền tôi, vì vướng chúng bệnh nhân không thể nào hít vào cho đầy phổi, hoặc thở bụng nếu muốn. Nhìn thấy ống câu thông nước tiểu, cô y tá cho biết đó là thủ tục bình thường để tránh bệnh nhân đái văng tung tóe trong phòng mổ, trong lúc ai nấy đều bận không có thời giờ lau chùi. Ống thông nước tiểu này sẽ được rút ra vào hôm sau, bệnh nhân cần uống nước cho thật nhiều để có thể đi tiểu trở lại như bình thường trong vòng 6 tiếng, vì nếu không họ sẽ gắn trở lại và uống thuốc thông tiểu thêm vài ngày nữa.

Ngày thứ nhất sau khi mổ, tôi chỉ nằm trên giường và không được ăn gì. Qua ngày thứ hai, họ bắt đầu cho ăn nhẹ, và bắt tôi phải ra ghế ngồi,  cùng khuyến khích đi bộ chung quanh tầng lầu. Ngày thứ ba, họ chỉ cách leo thang lầu sao cho an toàn, và gia tăng số vòng đi bộ, cùng lúc ăn uống nhiều hơn. Chiều tối ngày thứ tư, y tá làm thủ tục cho tôi về lại nhà, sau khi giúp tôi tắm rửa và chỉ dẫn cách lau chùi các vết mổ khi về nhà. Tôi phải tắm và lau chùi các vết thương mỗi ngày một lần. Các khăn lau và quần áo đều phải thay mới hàng ngày. Hôm cuối, có nhân viên thể dục (physical therapist) vào chỉ dẫn tôi cách tập thể dục giới hạn khi phải nằm trên giường.

Khi đang viết bài này, tôi đã về nhà được 6 tuần, xin viết tóm tắt để chia sẻ kinh nghiệm qua thời gian hồi phục.

Sau khi mổ tim, chắc chắn là ai cũng được khuyến cáo là cần phải theo cách ăn uống cho một quả tim tốt lành (Healthy Heart Diet), và phải uống kèm vài thứ thuốc như thuốc loảng máu (Aspirin 81mg chẳng hạn), thuốc điều hòa máu, thuốc tan mở, v.v. Sau một thời gian, tùy theo tình trạng tiến triển của bệnh nhân, các loại thuốc này được giảm hoặc bỏ hẳn.

Tuân lễ đầu tiên về nhà, chắc chắn rất là khó khăn cho bệnh nhân vì cử động chi cũng đều làm đau ngực, mặc quần áo cũng khó, làm bếp cũng không xong, khiêng vật chi nặng hơn 3 pounds cũng không cho, v.v.  Cho nên việc cần người thân, hay thuê người phụ giúp, hay vào ở trong Rehab Center là điều cần thiết.

Từ tuần thứ hai trở đi là đở hơn vì đã quen dần, nhưng bệnh nhân cũng cần tránh việc khiêng nặng, các hoạt động nặng nề như cắt cỏ , làm vườn, v.v.

Sau khi mổ tim, việc tập thể dục cũng bị giới hạn, các bác sĩ tim cũng như như các chuyên viên thể dục đều khuyến cáo bệnh nhân nên đi bộ càng nhiều càng tốt. Mỗi ngày từ 2 đến 3 dặm (3 đến 5km). Dĩ nhiên đi dưới trời nắng ấm thì càng tốt hơn nữa.

Đối với cá nhân tôi, việc ăn uống kiêng khem, làm việc và tập thể dục bị giới hạn cũng không có chi khó khăn. Việc duy nhất làm tôi mệt nhất là chuyện chỉ được nằm ngữa mà ngủ. Bác sĩ khuyến cáo là không nên nằm nghiêng, lý do là cần chờ cho hai khung xương sườn lành lặn trở lại. Việc trở mình, khiêng nặng có thể sẽ làm cho hai khung xương bị lệch, cần phải điều chỉnh, và làm thời gian phục hồi lâu hơn. Mà thời gian cần thiết cho hai khung xương nối liền trở lại là từ 6 đến 12 tuần. Mỗi tối nhiều khi tôi chỉ ngủ được hai hay ba tiếng rồi thức luôn, vì nằm nhiều quá nóng lưng còn khổ hơn. Để qua thời giờ, tôi quay ra tập Thiền, hay đi bộ vòng quanh trong phòng. Thật khổ cho ai phải ngủ cùng phòng. Ngoài ra, thuốc gây mê Anesthesia đôi khi làm cho bệnh nhân cảm thấy lạnh hay nóng bất thường, ngược lại với thời tiết, và việc này có thế kéo dài từ một đến hai tháng.

Do việc khung xương sườn cần ít nhất là từ 6 đến 12 tuầm mới lành lặn, bác sĩ mổ tìm khuyên bệnh nhân không nên lái xe trong vòng 6 tuần. Mỗi khi đi đâu thì chỉ nên ngồi ở băng ghế sau. Lý do là khung xương ngực còn yếu, mà lỡ có tai nạn xe cộ xảy ra cái túi hơi (airbag) bung ra có thể đập mạnh vào ngực làm cho khung xương bị lệch dễ dàng.

Việc xuống cân chắc chắn là không tránh khỏi đối với những người hơi nặng cân. Nhất là khi áp dụng cách ăn theo đề nghị Healthy Heart Diet, cùng lúc uống thuốc tiêu mở. Đến nay tôi đã sụt 20 pounds, sau 6 tuần. Còn một người giám đốc trong sở của tôi đã sụt tổng cộng là 35 pounds. Ông ta đã cảm thấy khỏe hơn thật nhiều so với trước, làm việc dai sức hơn, v.v.

Chắc các bạn cũng hiếu kỳ muốn biết phí tổn của việc mổ tim này là bao nhiêu. Ba tuần sau khi về nhà, tôi nhận được bản báo cáo của hãng bảo hiểm cho biết phí tổn mà họ đã thanh toán với nhà thương là $70,000.  Tôi và bạn hữu đều ngạc nhiên là sao rẻ quá. Vì so với vài người quen cũng mổ tim ở Cali, phí tổn đã gần gấp ba. Đây là không tính các chi phí đến việc soi tim trước đó. Dĩ nhiên phí tổn cho việc cấp cứu một người bị kích tim (heart attack) cần xe cứu cấp chở vào bệnh viện, rồi phải làm soi tim, rồi tìm một nhóm bác sĩ tim làm ca mổ khẩn cấp, tổng số tiền chắc chắn là vượt qua con số $100,000 dễ dàng. Tùy theo bảo hiểm sức khỏe mà mổi người đã chọn, bệnh nhân đôi khi chỉ phải trã 10%, 20%, hay 50% tổng số phí tổn.

Vài dòng chia sẻ tin tức về vụ mổ tim cùng các bạn, cầu mong mọi người đều dồi dào sức khỏe, không phải trãi qua một cuộc giải phẩu tim như tôi.  Mà nếu có, thì cũng không có chi quá lo.
Nguyễn Đức Trọng
Virginia, 12/12/2016

Căn bịnh … bỏ quên

Nguyễn Đức Trọng

Giong bác sĩ B. thật trong và rõ ràng “Kết quả của việc soi tim cho thấy hai trong ba mạch máu chính đưa máu về tim của ông đã bị nghẹt 100%.  Để chữa trị tình trạng này, chúng tôi đề nghị là cần giải phẫu tim để câu thông hai mạch máu này”.

Dù y tá lúc này đã chỉ cho tôi hai chổ bị nghẹt trên đó hình, tôi vẫn muốn biết thêm là nguyên nhân vì đâu tôi vẫn không cảm thấy chị sức khỏe thay đổi, ngoài chuyện bị rang ngực mỗi khi đi bộ nhanh hoặc lên dốc sau khi ăn.

Bà bác sĩ B. cho biết là do nhờ mạch máu bên trái còn lại hoạt động tốt nên tạm bơm đủ máu với oxy cho các cơ tạng.  Ngoài ra, nhờ trái tim tự động tạo vài đường nối nhỏ li ti, câu dẫn qua hai nơi bị kẹt nên tôi chưa cảm thấy khác biệt bao nhiêu.

Bác sĩ B. giải thích thêm là nếu mạch máu chỉ bị nghẹt 60% đến 80%, bà có thể dùng bong bóng làm thông nơi bị nghẹt và sau đó gắn “stent” vào giúp cho mạch máu nơi bị nghẹt vững chắc hơn.  Nhưng khi bị nghẹt trên 90% thì phải nối mạch máu để câu vòng qua nơi bị nghẹt (heart by-pass surgery).

“Với tình trạng như vậy, còn có giải pháp khác không? Trong tương lai có còn bị kẹt nữa không?”

Bác sĩ B. cười trả lời là việc câu nối mạch máu bên ngoài chỉ là cách giải quyết tình trạng hiện tại mà thôi, không bảo đảm chuyện lại có thể bị nghẹt mạch máu trong tương tương lai.  Đó là chưa kể việc tôi phải uống thuốc giúp máu lưu thông điều hoà hơn suốt đời.  Nghe câu trả lời là phải uống thuốc suốt đời làm tôi nản quá chừng.  Ráng hỏi thêm một câu nữa “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi không chịu giải phẫu, và cố gắng thay đổi cách ăn, cũng như sinh hoạt”.  Bác sĩ B. kiên nhẫn trả lời “Tim của ông hiện tại vẫn hoạt động tốt, sức khỏe của ông vẫn bình thường, việc thay đổi ăn uống, sinh hoạt chỉ là giúp các mạch máu còn lại không bị nghẹt.  Dù vậy, hai mạch máu bị nghẹt vẫn không thể nào tự thông trở lại.  Trong tương lai nếu có bị kích tim (heart attack) thì đó sẽ là một trận kích tim thật nặng (major heart attack).”

Việc phải làm quyết định mổ hay không mổ, đúng là khổ cho chúng tôi.  Bác sĩ thì muốn thực hiện càng sớm càng tốt, trong vòng vài tuần.   Chúng tôi xin phép được thảo luận riêng với nhau trước khi trả lời . Để chúng tôi có thể cân nhắc kỹ hơn, bác sĩ B. cho biết là theo thông kê trước nay, sác xuất tử vong của việc mổ tim câu dẫn mạch máu là rất nhỏ, chỉ có 1%. Sác xuất người bệnh cảm thấy khoẻ và tốt hơn sau khi mổ là 95%.

Thật tội nghiệp cho cô hàng xóm phải bỏ làm đi theo tôi và ngồi nghe những tin tức không tốt lắm về sức khỏe của tôi.  Vừa mệt mỏi, nhức đầu về sức khỏe của bà già, sức khỏe của chính bản thân, nay lại phải gánh thêm viễn vọng không khá được về chữa trị, thời gian hồi phục cho trái tim không ngủ yên của tôi.

***
Chuyện bị rang ngực, làm soi tim, khám phá bị nghẹt hai mạch máu xảy ra chừng hai tháng nay, vừa làm tôi mệt với những buổi hẹn đi gặp bác sĩ, làm thử nghiệm, v.v. Đó là chưa kể tìm đọc qua Internet, sách vở về hoạt động của quả tim, cách ăn uống đểtránh mạch máu bị nghẹt có thể dẫn đến việc bị kích tim (heart attack), xuất huyết não (stroke), chân cẳng tê liệt, v.v.  Tôi cũng có dịp hồi tưởng lại suốt quá trình cuộc sống của mình đã qua, nhất là từ ngày bước vào ngưỡng cửa trung học.

Từ ngày con nhỏ, tôi ăn uống rất nhiều kẹo bánh đủ thứ hết, nhưng lại rất ít ăn rau cỏ.  Mãi đến học lớp Đệ Tam, mới nhận sự sai lầm, tôi mới bắt đầu tập ăn nhiều rau cỏ hơn.  Một phần vì hoạt động, thể dục nhiều, tôi vẫn chưa bỏ được thói quen ăn uống nhiều, thường là gấp đôi thiên hạ.

Lúc ở Đà Lạt, theo học CTKD, tôi đã cảm thấy ngực bị rang khi phải đi bộ trở về nhà, hay leo dốc từ đường Phan Đình Phùng lên đường Hàm Nghi nơi nhà thờ Tin Lành, sau những bữa cơm tháng từ quán Bà Duyên.  Đoạn đường dốc này chỉ cao chừng 15-20m, nhưng tôi phải đứng nghỉ ít ra là hai lần, nữa chừng và đầu dốc, cho tim đập lại bình thường.  Hôm nào may lắm thì gặp anh bạn Đoàn Đình Hồng và ông Trung Úy Thành làm ở Toà Tỉnh ăn chung.  Sau đó là được ông Thành cho đi ké xe Jeep về nhà.  Con chuyện đi hai đoạn đường dốc liên tục từ đường Phan Đình Phùng băng lên Hàm Nghi, rồi từ Hàm Nghi leo dốc chùa Linh Sơn lên đường Võ Tánh là tui tránh. Suốt 4 năm học, tui chỉ dám đi bộ một lần duy nhất đoạn đường này rồi thôi.

Vì thấy tôi bị rang ngực mỗi khi leo dốc sau bữa ăn, bà má nuôi liền kéo tôi đi gặp bác sĩ Cát, một chuyên gia về mắt và tim ở Saigon, để thử nghiệm “điện tâm đồ” cũng giống như làm “stress test” bây giờ ở Mỹ. Bác sĩ Cát cho biết là tôi có vấn đề với tim và chỉ khuyên là tôi cần ăn uống kỹ lưỡng hơn, cũng như cần tập thể dục thường xuyên.  Ông chẳng cho uống thuốc gì cả. Năm sau 1974, nghe tiếng bác sĩ Võ Sum, tôi đến để ông khám và cho ý kiến.  Ông bảo tôi chạy thử tại chỗ trong 5 phút, khám tim và đo áp huyết cẩn thận.  Ông cho biết là dù tim có kém hơn bình thường, nhưng nếu tôi điều độ và tập thể dục thường xuyên sẽ không có vấn đề. Nghe thế là tôi hân hoan ra về, nghĩ rằng chuyện tập thể dục là không có gì phải lo vì tôi thường tập thể dục nhiều hơn ai hết, còn chuyện ăn uống thì cố gắng ăn nhiều rau hơn là xong.

Rồi cơn bảo dữ với làn “sóng đỏ” tràn ngập miền Nam VN đã làm tôi trôi giạt nửa vòng trái đất.  Mãi lo làm việc, kiếm sống, lâu lâu rảnh thì lang thang đó đây, tôi quên bẵng và không còn nhớ đến chuyện rang ngực hay đau tim gì hết.

Bây giờ ngồi nhìn lại mình và các tài liệu, tôi mới nhận ra lý do tại sao tôi dễ thấm cái lạnh hơn người khác.  Đó là vì cái mạch tim chính bên phải bị yếu hay bị nghẹt, nó là nguồn cung cấp máu giàu khí oxy cho hai lá phổi.  Những khi vô ý, tôi thường hay bị sưng cuống phổi vào mùa thu, mùa đông và ho dai dẳng cả vài tuần mới hết. Mạch máu chính bên trái của tim, chia ra làm hai, và hai nhánh này cung cấp cho tất cả mọi nơi trong cơ thể.  Hiện tại thì nhánh bên phải chạy phía trước quả tim bị nghẹt.  Tóm lại là số lượng máu cung cấp cho quả tim hiện tại của tôi chỉ đạt tối đa là từ 40% đến 60%.  Có thể đây cũng là lý do tôi thường chậm chạp trong mọi chuyện, từ cách suy nghĩ, phản ứng, và làm việc.  Cô hàng xóm khi nghe tôi phân tích các chuyện này, nàng cười và phán “… đây là tại ông yêu nhiều quá nên tim mới ra cớ sự!”

Chuyện nghẹt mạch máu dù đa số là do việc ăn uống, các chất dơ trong máu hội tụ lại với nhau, rồi đóng lên thành vách và làm nghẽn sự lưu thông của máu. Ngày còn trẻ, sức khỏe dồi dào, chúng ta lướt qua dễ dàng. Đến khi lớn tuổi, mạch máu trở nên cứng dòn, nhỏ lại, thì việc bị nghẹt rất dễ xảy ra.  Mạch máu cũng có thể bị nghẹt do sự thay đổi về thời tiết, như từ trong nhà nóng đi ra ngoài trời lạnh, hay từ nơi có máy điều hòa đi ra và gặp cái nóng gay gắt bên ngoài.  Hoặc trong lúc tắm chẳng hạn, sự thay đổi nhiệt độ quá nhanh đã làm mạch máu thắt lại bất ngờ và không có người biết mà báo động để cứu cấp. Tôi đã có vài người quen lăn đùng ra chết sau vài hiệp đánh tennis, đang làm vườn ngoài sân, hoặc trong giấc ngủ.  Ngoài ra sự thay đổi đột ngột về cảm xúc cũng có thể làm mạch máu thắt lại đưa đến kích tim, như gặp chuyện quá vui hay quá buồn. Từ ngày còn nhỏ, tôi để ý mỗi lần đọc truyện hay xem phim đến đoạn quá vui hay quá buồn là tôi nghẹn lời, không nói được, hay lạc giọng. Những lúc như vậy, tôi thường nhắm mắt, hít thở vài hơi chậm và sâu, giọng nói mới trở lại như bình thường.  Do đó tôi rất ngại khi phải tranh luận với ai về bất cứ vấn đề gì.

Theo thống kê mới nhất của Mỹ, số người chết hàng năm do những chứng bệnh liên quan đến tim là 25% trong tổng số.  Có nghĩa là cứ bốn người chết thì có một người chết vì bệnh liên quan về tim.  Đọc thấy cũng dễ sợ thiệt!

Từ nhỏ tôi đã ngại các chuyện mổ xẻ, lúc nào cũng có gắng tự chữa bệnh qua cách tập thể dục đều đặn, ăn nhiều rau cỏ, lâu lâu lại làm thanh lọc, v.v. Đã vượt qua đoạn đường dài hơn 40 năm, không ngờ này lại vướng phải cái màn nghẹt mạch máu. Trước khi làm soi tim, tôi chỉ mong là nghẹt sơ sơ để có thể đặt “stent” vào, nhưng không ngờ là đã nghẹt cứng. Cách giải quyết hiện nay tại những bệnh viện đều là đề nghị làm “heart by-pass surgery”, không còn lựa chọn nào khác.

Trong thời gian một năm gần đây, trường đại học Boston đã nghĩ đến một phương pháp uống thuốc làm mềm cục máu đông vào ngày hôm trước, ngày hôm sau sẽ cho đường giây soi tim hút bớt phần nào cục màu đông trước khi đi xuyên qua, rồi hút hết phấn màu đông còn lại, rồi đặt “stent” vào đó.  Họ đã thử nghiệm thành công vào tháng 4/2016 với 6 bệnh nhân, và hình như hiện nay chỉ có một bệnh viện vùng vịnh Mexico thuộc tiểu bang Florida được phép của FDA thực hiện các cuộc phẫu thuật loại này.

Mỗi người có một lối sống, một cách nhìn khác nhau, nên cùng sự việc mọi người lại có một ý kiến khác nhau.  Chẳng ai giống ai, và ai cũng có cái lý của mình. Tôi có mấy đứa em họ và người quen, đã ra đi lúc đang ngủ do bị kích tim và xuất huyết não, người thân còn sống kẻ thì than buồn, kẻ thì phán là sao nó sướng quá, ra đi mà chẳng phải bị đau đớn, hành hạ trên giường bệnh như nhiều người khác đã bị tê liệt cả nữa người bên dưới, sống khổ sở cả năm trời mới được chết, và làm khổ luôn cả mọi người chung quanh. Có ông bạn già sau khi mổ tim, làm 5 đường nối, làm xong thì than quá trời, đi đâu xa cũng không được và ngực lúc nào cũng đau lâm râm. Còn có tên giám đốc trong sở, nhờ đi chích ngừa trước khi qua Phi Châu leo núi, gặp người bác sĩ quen cho làm thử nghiệm thì mới hay là có 5 nhánh nhỏ bị nghẹt từ 90% trở lên.  Thế là anh chàng xin được mổ luôn, bây giờ thì phơi phới đi chơi, khoẻ hơn trước khi mổ. Còn những người được thông tim đặt “stent” hay được mổ tim làm đường câu dẫn trong lúc bị ngất xỉu được đưa vào phòng cứu cấp, chúng ta có thể xem như là họ đang trên đường đi đến “suối vàng”, nhưng vì nợ trần gian chưa dứt nên được cho phép quay về trả tiếp.

Sau khi cân nhắc mọi chuyện, từ trong ra ngoài, tôi quyết định là sẽ làm mọi chuyện như các bác sĩ đề nghị vào cuối tháng 10/2016, sau chuyến đi họp mặt với bạn học cùng trường ở miền Nam Cali. Các bạn có nghĩ đến tôi, chỉ xin vài phút nhắm mắt lại và gởi đến tôi những lời chúc lành qua tư tưởng là đủ lắm rồi. Trước giờ chúng ta cứ bị giới hạn với vật chất, hôm nay tạm dùng phương pháp “thần giao cách cảm” một chút cho vui.

Nguyễn Đức Trọng
tdnguyen97266@yahoo.com
Virginia 9/2016

Vụ Cain Giết Abel

Nguyễn Văn Thành
abel-2

(Cain và Abel mang lễ vật dâng Chúa. Khắc trên ngọc)

Có lẽ vụ sát nhân nổi tiếng nhất trong nền văn minh Tây Phương là vụ anh em giết nhau được thuật trong Sách thứ Nhất của Môi-Se (Moses), Chương 4, đoạn 1-16 (Book of Genesis, 4:1-16). Các sự kiện như duyên cớ, phiên xử và bản án gồm những câu ngắn gọn đủ giúp chúng ta có thể, không khó khăn lắm, diễn lại đủ sự việc xẩy ra tại hiện trường.

Vụ sát nhân diễn tiến như sau:

Cain và Abel là anh em, con của ông Adam và bà Ê-Va. Cain làm nghề nông, còn Abel chăn cừu. Hai anh em mang lễ vật dâng Chúa. Cain dâng trái cây và Abel dâng chiên đầu đàn và mỡ của nó. Không rõ vì lý do gì, Chúa nhận lễ vật của Abel và không đoái tới lễ vật của Cain. Cain tức giận không còn giữ được sự bình tĩnh nữa. Cain cúi gầm mặt xuống tỏ vẻ ghen tị với người em mặc dầu Chúa đã cảnh cáo y không được có thái độ như vậy đối với em. Không nghe theo tiếng gọi của lương tâm, Cain chờ cơ hội thuận tiện khi hai anh em ở cánh đồng vắng, Cain nổi giận xông tới giết chết em.

Những chi tiết ghi trong hồ sơ vụ án thật giản dị; một tội phạm nghiêm trọng thông thường luôn luôn xảy ra do sự ghen tị, căm ghét và giận dữ. Có hai sự kiện chính được coi như bằng chứng để buộc tội Cain: người ta đã trông thấy Cain và Abel cùng đi ra cánh đồng nhưng khi trở về chỉ thấy có một mình Cain thôi. Máu của người em bị giết đổ ra trên đất kêu gào sự báo thù thấu tới Chúa. Cuộc điều tra bắt đầu.

Chúa cho đòi Cain tới để phán xét. Chúa hỏi: “Em ngươi ở đâu?”. Cain trả lời: “Thưa, tôi không biết. Tôi là người giữ em tôi sao?”. Câu trả lời càng tăng thêm sự nghi ngờ. Một người vô tội bị buộc tội giết em không bao giờ trả lời như vậy. Cuối cùng Cain giữ im lặng coi như là biện pháp hay nhất để tự biện hộ vì không có một nhân chứng nào chứng kiến vụ án mạng đó. Cain đã quên có một nhân chứng, máu của người em, đã tố giác hành vi sát nhân của y trong câu hỏi sau “Ngươi đã làm điều chi vậy? Tiếng máu của em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta.”

Theo thủ tục cổ xưa, cuộc thẩm vấn tại Tòa thật sơ sài nhưng cũng có đủ bằng chứng cho rằng Cain có tội. Bị can không bị kết án tử hình nhưng bị hình phạt lưu đầy.

Quy chế đầu tiên liên quan tới vấn đề sát nhân được quy định như sau trong Sách IX, chương 6 “Kẻ nào làm đổ máu của người khác sẽ thấy máu của mình đổ ra như thế.” (Who so sheddeth man’s blood, by man shall his blood be shed). Cain sợ chết, thưa, “Chúa đuổi tôi ra khỏi đất này, khi sống lưu lạc e có người gặp tôi, họ sẽ giết tôi.” Bởi cứ ấy, Chúa phán, “Nếu ai giết Cain thì sẽ bị báo thù bẩy lần.” Chúa đóng dấu trên mình Cain để cho mọi người biết không được giết Cain.

Phạm nhân Cain bị xua đuổi khỏi khu dân cư đông đúc, bị lưu đầy vào chốn hoang vu tại xứ Nod về phía Đông Eden, nơi đó không có gia đình, luật pháp và Thượng Đế che chở cho y.

abel

 (The Death of Abel. From La Sainte Bible 1866. Engraving. Họa Sĩ Pháp Gustave Doré tả vụ cố sát Abel. Bức tranh in từ bản khắc trong Thánh Thư. 1866)

Nhận xét về vụ án

Ðề cập vụ án Cain giết Abel, học giả David Werner Amram đã sử dụng nhiều từ chuyên môn pháp lý quen thuộc ở Tòa án như Chúa ban trát đòi Cain tới hầu Chúa, mở cuộc điều tra, Cain phải qua cuộc đối chất, bản án của Tòa đã tuyên…

Nhưng có một điểm pháp lý từ xưa cho tới nay đều áp dụng giống nhau. Ðó là động cơ thúc đẩy sự phạm pháp vì lý do nhân đạo hay ghen tị không ảnh hưởng tới sự trừng phạt.

Người viết xin tạm dịch một vài đoạn trong tác phẩm của học giả Amram để đóng góp vào sự thâm cứu vụ Cain.

“Ðề nghị, lấy ra từ trường hợp Adam và Eve, cho rằng quan niệm dân gian về sự ban phát công lý của Thượng Ðế theo cung cách tộc trưởng thời bấy giờ, cũng áp dụng cho trường hợp phạm pháp này. Truyền thuyết cũng không đưa ra một lý do nào cho biết tại sao lễ vật của Abel đã được nhận còn lễ vật của Cain bị từ chối, và cho rằng không đủ lý do chính đáng để biện giải cho sự phạm pháp. Cho dù đưa ra bất cứ lý do gì về việc Chúa không đoái hoài tới lễ vật của Cain, thật khó cho rằng sự việc đó ảnh hưởng tới khía cạnh pháp lý của vụ án cố sát. Xã hội học đối chiếu và văn hóa dân gian đề ra nhiều lý do khác nhau mà vào thời đại ngày nay chúng ta không còn quan tâm tới nữa…

Thật khó có thể nói rằng Cain đã được xét xử theo đúng tội phạm của y, bởi vì phương pháp thẩm vấn đương sự đã hoàn toàn thô sơ để có thể quan niệm một tiến trình thứ tự trong thủ tục điều tra tư pháp về sau này. Và tội phạm của y đã được xác nhận thể theo hoàn cảnh của vụ phạm pháp, và ngoài sự chối cãi đơn thuần không nhận tội, can phạm đã không hề có một toan tính nào để tự bào chữa cho mình. Bản án đã được tuyên ngay sau đó. Hình phạt dành cho bị can không phải tử hình mà là án lưu đày.”

Và tác giả Amram kết luận:

Có lẽ vụ sát nhân nổi tiếng nhất trong nền văn minh Tây Phương là vụ anh em giết nhau được thuật trong Sách Thứ Nhất của Môi-Se (Moses), Chương 4, đoạn 1-16 (Book of Genesis,4:1-16)”

 Chú thích:

-David Werner Amram – From Leading cases in The Bible- “The Murder of Babel”- “The Judgement of Solomon”.

   – The Complete Bible Handbook by John Bowker-Lightning out of Israel-The Arab-Israel Conflict by the Associated Press- Commemorative Edition)

TP. Nguyễn Văn Thành 

(Trích: “LUẬT PHÁP VÀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT”, Cỏ Thơm xuất bản 2016 )

nguyenvanthanh-image

Khi Tiếng Mỹ Được “Chêm” Vào Tiếng Việt

Đàm Trung Pháp

MỘT ĐIỀU KHÓ TRÁNH

Sau bốn thập kỷ tỵ nạn tại Mỹ, nhiều người Việt chúng ta sử dụng tiếng Mỹ thành thạo trong đời sống hàng ngày cũng như trong công ăn việc làm. Cũng vì vậy mà khi nói tiếng Việt với nhau tại quê hương mới này, chúng ta có khuynh hướng “chêm” khá nhiều tiếng Mỹ vào ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Trong các câu chuyện xã giao, trong báo chí, và ngay cả trong văn chương nữa, sự giao thoa giữa hai ngôn ngữ Việt và Mỹ là một hiện tượng tự nhiên và khó tránh.

Các tiệm ăn mới khai trương thường không tính tiền nước uống cho thực khách và diễn đạt ý tưởng ấy bằng nhóm chữ Free nước ngọt. Kỳ diệu thay, nhóm chữ này dùng cú pháp Mỹ rất chỉnh: tĩnh từ free mô tả danh từ nước ngọt được trịnh trọng đặt trước danh từ ấy! Vài tiệm phở có sáng kiến bán phở làm sẵn cho người mua mang về nhà, và quảng cáo thứ phở đó là Phở to go. Khỏi phải nói, nhóm chữ này cũng đúng cú pháp Mỹ luôn!
Người viết được đọc trên báo chí một bài thơ vui của tác giả Nguyễn Phú Long, trong đó tiếng Mỹ thoải mái sánh vai cùng tiếng Việt. Mời quý bạn thưởng lãm bài thất ngôn tứ tuyệt “mang hai dòng ngôn ngữ” được sáng tác để mừng tân xuân buồn tẻ nơi hải ngoại:
Xe thư bưu điện đến rồi đi,
Ngoài coupons ra chả có gì.
Bạn tới chúc xuân khui nước ngọt,
Buy one ngoài chợ get one free.
HIỆN TƯỢNG ĐẠI ĐỒNG
Hiện tượng giao thoa ngôn ngữ của chúng ta thực ra là một khuynh hướng đại đồng. Mọi sắc tộc di dân khác tại xứ này đều “chêm” tiếng Mỹ vào tiếng mẹ đẻ của họ, chẳng khác gì chúng ta cả. Khả năng sáng tạo của bộ óc loài người trong cách sử dụng hai ngôn ngữ thoải mái bên nhau để truyền thông hữu hiệu thực là thần kỳ.
Các ngữ học gia tại Mỹ ngày nay mệnh danh hiện tượng giao thoa ngôn ngữ ngoạn mục này là code-switching và phản bác những lời phê bình lỗi thời  lên án người sử dụng nó là cẩu thả, lai căng, hoặc hỗn loạn trí tuệ. Trái lại, họ cho rằng những người có khả năng cho hai ngôn ngữ hòa hợp với nhau một cách hữu hiệu là những người thực sự đã làm chủ được cả hai ngôn ngữ ấy, và khi cần thiết (như khi giao dịch với một cá nhân đơn ngữ) họ dư khả năng sử dụng chúng một cách “tinh tuyền” không pha trộn chút nào.
Người ta từng ví von một cá nhân “đơn ngữ” (monolingual) như một ca sĩ chỉ có thể đơn ca, một cá nhân “song ngữ” (bilingual)” như một ca sĩ có thể một mình song ca, và một cá nhân “đa ngữ” (multilingual) như nhạc trưởng một ban hợp ca!
LÝ DO CỦA CODE-SWITCHING
–  Tiếng Việt không có ngữ vựng hoặc thành ngữ thỏa đáng để diễn tả một ý niệm mà chúng ta đã quá quen trong tiếng Mỹ. Thí dụ, khi còn ở quê nhà trước 1975, lúc bị bệnh không đi làm được, chúng ta đâu có gọi điện thoại vào sở để “cáo ốm” được? Thành ra, khi diễn tả ý niệm đó trong cuộc sống hiện tại, chúng ta liền cho thành ngữ rất tiện dụng của người Mỹ là call in sickgiao duyên ngay với tiếng Việt mến yêu, để nẩy sinh ra câu “Bữa nọ mình bịnh quá, đi làm hết nổi, thành ra phải call in sick rồi nhờ người ta đưa đi bác sĩ đấy!”
Những từ ngữ chuyên môn như software, blueprint, email, workshop, những công thức ngắn gọn để chào hỏi, chúc tụng, cảm tạ, hoặc chia tay trong tiếng Mỹ như hello, good morning, sorry, congratulations, thank you, bye cũng rất được chúng ta chiếu cố và sẵn sàng chêm vào tiếng nói chúng ta một cách tự nhiên.
–  Code-switching là một cách ngăn chặn không cho người khác “nghe lóm” chuyện riêng tư của mình. Chẳng hạn, hai người Việt đang tâm sự với nhau bằng tiếng Mỹ trong thang máy mà chợt thấy một người Mỹ đứng bên cạnh có vẻ tò mò lắng nghe. Họ bèn chuyển câu chuyện buồn ấy sang tiếng Việt để được “yên tâm” hơn: “My wife has asked for a divorce since I lost my job last year, you know … Đã mất việc rồi lại sắp mất cả vợ nữa, tôi chẳng còn thiết sống, anh ạ.”
–  Yếu tố Mỹ chêm trong tiếng Việt là một cách gián tiếp nói lên một mối liên kết giữa những người “đồng hội đồng thuyền” với nhau. Người viết biết chắc nhiều Việt kiều áo gấm về làng khi gặp nhau tại quê cũ thế nào cũng “pha” ê hề tiếng Mỹ vào tiếng Việt của họ, như thể để nhắc nhở mọi người mọi giới rằng họ là những “người Mỹ gốc Việt” chính cống sáng giá lắm đấy, chứ không phải là đồ bỏ đâu: “Hey guys, are you from Little Saigon, too? Sẽ stay tại Huế bao lâu?”
Các người Mỹ gốc Việt tranh cử vào các chức vụ công quyền mà không chêm tiếng Việt vào tiếng Mỹ khi tiếp xúc với cử tri đồng hương thì khó mà lấy được phiếu bầu của họ: “When I get elected as mayor of this city, kính thưa bà con cô bác, I will do my best to serve the needs of elderly folks in our dear cộng đồng…”
–  Yếu tố Mỹ trong tiếng Việt cũng cho thấy người nói sắp chuyển sang một thái độ mới, như để cảnh giác người nghe. Này nhé, khi thấy sắp đến giờ đi học mà đứa nhỏ còn nằm dài trên giường, người mẹ song ngữ Việt-Mỹ có thể phát ngôn: “Này cu Tý, gần bảy giờ sáng rồi đấy nhá. Ngủ nhiều rồi mà. Now get up!” Nghe bà mẹ hiền đang nói tiếng Việt rồi bà bất chợt chuyển sang tiếng Mỹ ở câu cuối cùng thì cu Tý, dù có lì lợm đến mấy, chắc cũng phải nhảy ra khỏi giường tức khắc!
CHÊM TIẾNG MỸ VÀO CHỖ NÀO TRONG CÂU?
–  Các danh từ, động từ, tĩnh từ Mỹ có thể được chêm vào chỗ phù hợp trong câu: “Chị ơi, em đang depressed quá vì em và boyfriend vừa split rồi!”
–  Các số từ, giới từ, liên từ Mỹ không thể chêm vào câu Việt. Không ai nói:“Tôi nghĩ fifteen ngày nữa việc này mới xong.”  “Làm ơn dẫn con chó ấy across con đường dùm tôi!”  “Although Lan nghèo, cô ta rất hạnh phúc.”
–  Các từ ngữ thông dụng tiếng Mỹ thường được chêm vào đầu hay cuối câu: “As a matter of fact, nó vừa đến thăm tôi hôm qua mà.”  “Tay ấy thì xạo hết chỗ nói rồi, you know.”
–  Trong một câu kép (compound sentence) hoặc một phức hợp (complex sentence), tiếng Mỹ có thể chiếm nguyên một mệnh đề trong đó: “You can drink coffee, nhưng tôi sẽ uống nước trà.” || “Nếu mà anh mệt, please stay home tomorrow!”
Người viết mạn phép “chêm” tiếng Mỹ vào trong phần kết luận dưới đây. Rất mong quý bạn đọc không nghĩ là người viết ôm đồm nhiều ngoại ngữ quá cho nên đã bị “tẩu hỏa nhập ma” rồi:
Code-switching giữa hai ngôn ngữ Việt và Mỹ là một natural phenomenon, cho nên chúng ta chẳng phải worry gì cả về issue này, OK?  Vả lại, cái habit chêm tiếng Mỹ vào tiếng Việt này nó khó quit lắm! Quý bạn cứ try your best nói tiếng Việt “tinh tuyền” về politics hoặc jobs trong một bữa cơm gia đình mà coi. It will be a pain, tin tôi đi!”
 

Đàm Trung Pháp

* Sưu tầm, trình bày tranh và câu chữ minh họa: Ngọc Dung.

Chuyện năm nẵm về Sàigòn: Biển Trời Lai Láng

Nguyễn Văn Sâm

Cảm thức về Sàigòn ở trong tôi dù sống nơi đâu. NVS

sagon

Gần nửa đời người  lăn lóc đó đây trên nhiều khu khác biệt của đất Sài-gòn vậy  mà tôi chỉ thấy được hai mặt, hoặc tráng lệ nguy nga đè bẹp con người  dưới gông cùm kim tiền vật chất, hoặc bùn lầy nước đọng chết đuối con người bằng những thứ tầm thường nhỏ mọn như miếng ăn chỗ ở. Không có bộ  mặt nào khác hơn.  Sài-gòn đối với  tôi, như vậy trên bản chất giống bất cứ một thành phố nào trên thế giới, không thể tìm thấy tánh cách thuần túy Việt Nam. Tôi một thời lơ là với  Sài-gòn cũng vì lẽ đó. Thế nhưng có ai chơi cắc cớ hỏi tính chất Việt của một thành phố là cái gì, nằm trong địa hạt nào của muôn ngàn dáng vẻ biểu hiện từ văn minh đến văn hóa, chắc thế nào tôi cũng ậm ừ cho qua bởi không thể nào vẽ lên, tả được những nét tận tường. Ổ chuột và những căn nhà chông chênh trên mặt sông bùn lầy đen đúa thì hiện diện ở bất cứ thành  phố nào của xã hội nghèo nàn, nhất là vùng Ðông Nam Á. Xã hội tân tiến Tây phương ít xóm nghèo, ít hang cùng ngõ hẻm hơn, ít nhưng không phải là không. Nhà lầu  cao với những kiến trúc tân kỳ  càng ngạo nghễ, đẹp mắt càng không thể tượng trưng cho Việt chất. Chộp nắm được phần nào dễ thương, là  lạ trong kiến trúc, trong lối ăn nếp ở, trong cách xử thế tiếp vật, trong một nghề nghiệp đặc biệt, tôi, lòng lúc đó đương lạnh tanh, nôn  nao sung sướng như hồi nhỏ được về quê thấy lại cái lò gạch cũ, nghe được mùi thơm từ khu vườn mía Tây của người láng giềng, ngó mãn nhãn những miếng ruộng lớn đại nối tiếp nhau chạy tới mút chân trời, hay thấy con sông hiền hòa  thỉnh thoảng có vài  chiếc ghe lồng trôi  chầm chậm…

   Ðiều dễ thương đối với tôi  cũng bình thường thôi.  Thường  là những căn nhà ở vùng Bà  Chiểu, Thủ Ðức, ba gian hai chái, vách bổ kho, mái ngói âm dương, cột danh mộc tròn lên nước bóng lưỡng  dựng chững chạc trên từng tảng  đá xanh vuông vức, trong nhà đối  liễn vẫn còn treo trên những vị  trí trang trọng. Hay một cái bàn ‘ông  thiên’ giữa trời thường  thấy ở vùng Giồng Ông Tố với  hình ảnh người chủ gia đình, lúc  vừa chụp tối, bận áo bà ba hai tay chấp nắm nhang xá xá bốn phương trời.  Hoặc một cái gáo dừa gắn cán dài úp trên lu nước dựng ngoài  mái hiên bắt gặp thường xuyên  từ khoảng Cầu Hàn đổ ra đến  nửa đường đi Nhà Bè hay từ  phía Phú Lâm đổ lên Gò Ðen. Có những hình ảnh nhỏ hơn và tầm  thường hơn như tiếng võng đưa kẽo-kẹt vào lúc giữa trưa trời đứng gió. Võng phải treo phía trên  một cái giường tre khập khễnh mới đúng điệu, hòa hợp vời cảnh  trí xa xa là một bụi tre mà ngọn và tất cả lá đều đương đứng im lìm trầm ngâm ngó trời như thường thấy ở xóm Cầu  Tre trước đây thì càng tốt.

   Nhưng tôi chưa đủ thời giờ  để nhìn cho thỏa mắt, chưa đủ lớn để chíp vô ký ức cất làm kỷ niệm riêng cho đời mình thì các cảnh trí trên phần nhiều đã bị sóng thời gian tàn nhẫn phủ lấp chìm hay bóp cho biến dạng theo sự đổi thay tất nhiên của xã  hội. Chúng mất hút đi mau chóng, tới  khi tôi kịp rãnh rỗi ngó lại thì  còn chẳng thấy được bao nhiêu.

   À, hình như là Sài-gòn phát triển theo tốc độ phi mã của thời đại tân tiến nên tiêu diệt mất những vết tích nhà quê nghèo nàn nhưng  dễ thương của một sinh hoạt tiền đô thị mà trước đây tôi  tưởng lầm là nét chấm phá nào  đó của Việt tính. Nhưng không sao, tôi biết được bịnh mình. Mình thèm, mình thiếu trong máu huyết một  mảnh trời quê và đương đòi Sài-gòn cung cấp cho một chút quê mùa  đó. Ðô thị vây hãm tầm mắt bằng nhà cao, hãng xưởng và xe bụi, Sài-gòn giới hạn tâm hồn người  bằng chuyện thành phố lẩm cẩm tình -tiền -thù  không có gì đặc trưng, tôi cảm thấy thiếu một khung trời khoáng đãng,  thèm một chút hoàn cảnh thuận tiện  để buông thả tâm hồn, tôi thiếu tình người ở trạng thái sơ tâm…

   Trong tâm thái hoài cổ nao nao của nỗi thèm khát đó tôi được nghe chuyện hai vợ  chồng chú Hai Một nhưng quan, khóc đám.

    Như bao nhiêu lần trước, Chú Hai Một  khi vô tới hàng ba, dợm cẳng bước  lên ngạch cửa, thì quay về phía sau rầy dức vợ sao chậm lục còn  hơn bà già đi âm  phủ rồi xăn xáy bước ào vô nhà như con trốt, bỏ mặc kệ thím Hai còn đủng  đỉnh đánh-đồng-xa đâu đó  mút tí tè ngoài đầu ngõ.

   Nhiều người ngưng chuyện trò len lén ngước lên quan sát người khách  mới, cách quan sát có chút tò mò  đó, nhưng e dè, xa cách. Nhiều người, cử chỉ bỗng nhiên chậm rãi hơn như đương bận dồn hết giác quan  để bí mật theo dõi chuyện gì đó  xảy ra chung quanh. Có người còn liếc  liếc rồi lại giả bộ cúi xuống hớp  ly nước dở dang nãy giờ để  lơ là trước mặt. Không một câu  hỏi nào được nói lên thành lời, chỉ có những câu hỏi thầm  ngầm chứa trong thái độ và cử  chỉ. Chú Hai Một tuy vậy cũng đã  biết mình phải nói gì nên lên tiếng  trước, chú nói trống không nhưng  thật ra là nói với toàn thể những  người đương có mặt.

   ‘Ðược rồi, để đó tôi  lo liệu cho. Bà con mình không chớ ai vô đây’, chú hỏi tiếp theo sau khi dòm  sơ qua một vòng từ những người  ngồi ở cái bàn gần cửa tới  một số người trai trẻ ngồi bỏ  chưn thòng xuống đất trên bộ ngựa rồi tới những người hơi lạ  lạ ngồi tuốt trong gần chỗ cái màn  cửa ngăn với nhà trong. ‘Mà hồi  nào vậy? Hôm kia hôm kìa gì đây tôi còn thấy ảnh đi băng-xiên băng-nai, té lên té xuống trước nhà tôi, quần ống cao ống thấp, lè nhè, con nít chạy theo coi rùm trời.  Gì mà mau vậy?’

   Ba bốn tiếng giọng thanh niên, mau mắn tranh  nhau nói với khách. ‘Chị Sáu thấy xác ảnh nằm vắt  vẻo nửa trên nửa dưới ở  cái mương cá đằng nhà thằng cha  Ba Khìa hồi tưng bửng sáng….’

   ‘Chắc đâu hồi khuya….’

   ‘Trúng gió, té nước…’

   Tiếng xì xào bàn góp thêm chi tiết  như một thứ bịnh truyền nhiễm chuyền từ nhóm nầy sang nhóm kia, phá tan bầu không khí lạnh nhạt e dè từ khi chú  Hai Một bước vô. Một tay tổ nào  đó, ý chừng là bạn nhậu thân  tình với nạn nhân, chêm vô một  câu diễu vô duyên ớn. ‘Chắc đâu cũng đốn hết mấy lít rồi nên nóng nảy trong mình, về  khuya gặp nước, tắm mát rồi khoái  chí tử nằm ì ra đó không chịu lên.’

    Những cặp mắt bây giờ đổ  dồn về phía tay anh chị ăn nói bạt mạng đó. Trách móc, khinh thị, bất  bình. Biết mình nói hớ, anh ta cười  cầu tài, sửa. ‘Ậy…. mà sinh ký tử quy. Chết  trẻ khoẻ ma, chết già lụm khụm. Anh  Sáu thọ như vậy là được rồi, năm mốt bước qua năm ba bước  lợi đâu có bao nhiêu người  qua khỏi cái cầu nầy.  Ậy… mà đời  bây giờ còn sống là còn khổ.  Chính tôi đây nè, nhiều khi khổ quá  mạng, cầu trời chết cho rảnh nợ mà không  được.’

   ‘Con vợ thằng Sáu nóng ruột chồng đi cả đêm không về nên trời vừa hừng hừng sáng là lo xách đèn đi kiếm, ai dè sự thể như  vầy…’ một tiếng đàn bà nhỏ nhẹ, nói  với mọi người mà như nói với mình. ‘Í hị!’ Tiếng thở dài thương  hại thay cho cái chấm câu.

   Chú Hai Một quay qua cúi đầu chào người  đàn bà, bà vừa nói tiếp vừa  gật đầu chào lại, giọng nho nhỏ  pha một chút mủi lòng.

   ‘Tội nghiệp, cái thằng say sưa vậy  mà cũng biết lo tưởng tới vợ  con, trên bờ mương còn hai xâu thịt  heo quay với một mớ bánh bò trắng nằm lăn lóc. Tao tiếc quá lượm đem về bỏ trong gạt-măng-giê…  Cái số con vợ nó không được ăn heo quay, chồng đem về chưa tới  ngõ đã lăn đùng ra theo ông theo  bà.’

   ‘Tuần rồi ảnh với tôi còn  leo lên nóc nhà lợp lại cái mái lá dột phía trước hết một buổi  trời,’ người đàn ông hồi nãy cũng cái mửng cũ vừa nói vừa khoe. ‘Thiệt anh Sáu khỏe còn hơn tiên, hồi nào tới giờ ở  nhà quê mà sống theo kiểu dân cậu, đâu cần động tới móng tay…..’  Anh ta đổi giọng vui vui. ‘Chắc biết mình  sắp đi nên bữa đó mới  chịu khó trả nghĩa vợ lần chót.’

    Nhiều  tiếng cười tán thưởng ở phía đám thanh niên hòa chung với  vài cái hứ bất bình từ đám đàn bà.

   Chú Hai Một bây giờ mới quay về  phía người đàn ông nọ. Chú biết là ai nhưng cũng không thèm để ý tới chuyện chào hỏi, cũng  không thèm cười góp mà chỉ hất hàm một cách  trống không về phía buồng.

   ‘Ờ, ở trong đó đó,’ Bà già vừa nói hồi nãy hiểu ý trả lời hớt mọi người. ‘Tội  nghiệp, sớm tới giờ hai mẹ con  nó xà quần trong đó. Bây giờ  chắc là đương lo thay quần áo cho ‘thẳng’. Bùn đất không… Hồi mới  đem về…. ướt mèm ướt mẹp  nên tụi nó xót ruột. Nhà không có đàn ông con trai để lo mấy chuyện đó nên  tụi nó phải làm. Ðâu thằng Hai mầy vô coi coi, liệu giúp đỡ gì được  mẹ con nó thì giúp.’

   Thím Hai Một tới bây giờ mới vô tới hàng ba. Khác với chồng, thím thủng thẳng bước nhích nhích  từng bước một, đầu cúi xuống, hai đầu khăn rằn hết đầu nầy đưa lên chùi nước mắt tới  đầu kia đưa lên chùi nước miếng nước mũi. Người trong nhà chưa ai thấy mặt mày thím nhưng tiếng khóc xụt xùi hòa với tiếng hít  khịt mũi đã nghe rõ ràng, nức nở đứt ruột đứt gan, lâm  li như tiếng khóc dễ mủi lòng của bà con ruột thịt khi mất người thân  thương.

   Không mấy ai ngạc nhiên trước cảnh nầy. Chuyện thím khéo dư nước  mắt khóc người ‘thân sơ’ dân làng Bình An đâu ai lạ lùng gì. Nghề nghiệp. Nghề nghiệp ít người theo như vợ chồng thím. Hai ông bà đã từ bao lâu nay trở thành một cặp bài trùng không thể  thiếu trong mấy đám ma chẳng những quanh quẩn trong mấy cái cù lao giữa kinh Ruột Ngựa và kinh Tàu Hủ mà  nhiều khi còn có người rước  lên tới Chợ Ðệm, Bình Ðiền, Gò Ðen nữa.  Một vài người khách ngạc nhiên quan sát, sao trên đời  lại có người lạ lùng như vậy cà, mau nước mắt đã đành lại  còn không biết mắc cở khi làm chuyện  trên đời chỉ có một mình mình. Thím Hai Một khóc ngọt ngào, bất tận. Nước mắt như mưa tuông trào đầy mặt. Não can tràng hơn tiếng than của đào thương trong gánh hát. Khóc đã đời  thím cất giọng kể lể. ‘Sáu ơi  là Sáu, chú bỏ vợ yếu con thơ chú vội vàng đi đâu. Bao nhiêu người  thương chú trên đời sao không ở  lại. Âm phủ dương gian hai đàng cách  trở, từ nay vợ con chú biết trông  cậy vô ai? Sáu ơi là Sáu ơi. Ngày trước chú giúp người cô quả,  chú thân thiện xóm làng, đầu trên  chợ dưới, người dưng họ hàng, ai có chuyện gì chú không nề  hà giúp đỡ. Sao người như  chú mà trời bắt đi cho nỡ, còn những kẻ lỗi đạo vô nghì lại  sống chật trời chật đất, tốn  gạo tốn cơm… Sáu ơi là Sáu ơi.’

   Chú Hai Một quay mặt ra cửa, ngó mau  về phía vợ, nhăn mày tỏ ý không bằng lòng — quá lố rồi đó, quá  trong nước mắt thì còn chấp nhận được, quá  trong lời than thì chạm tới biết bao nhiêu người, ăn của chủ nhà bao nhiêu  mà đưa lưng mang tiếng oán. Tuy nghĩ bụng như vậy nhưng chú không  nói gì, chỉ vén màn bước thẳng  vô phòng trong.

   Bóng tối âm u của ngọn đèn  dầu phọng tim se bằng một miếng vải  trắng bỏ trong cái dĩa dầu để dưới gầm giường và cây đèn cầy nhỏ đặt phía dưới chưn người chết chập chờn leo lét, không giúp cho đôi mắt quen với ánh sáng của chú  Hai thấy gì hơn là một cụm tối dầy đặc, khổng lồ. Chú đứng định  thần một hồi hèn lâu mới quen mắt  lần. Con nhỏ Huê đương quay lưng về  phía chú, mặt quay vô vách, đương giơ cao lên  xăm xoi một cách dềnh dàng bộ đồ bà ba hàng màu hột gà của ba nó  đâu như là mới vừa được lấy từ trong tủ ra, còn đầy những  lằn xếp. Chị Sáu đương rờ rờ nắn nắn hai cánh tay co rút của  người chết mà mấy ngón tay cong lại như đương thủ thế để cào cấu ai. Gương mặt chị thểu não pha lẫn  nét chán chường. Chị biết bổn  phận mình phải làm gì nhưng không  biết bắt đầu từ đâu và bằng cách nào. Trong lòng  chị đương có một sự tương  tranh dữ dội giữa hai mặt sợ-thương. Thấy ánh sáng và đã  đoán được ai bước vô, chị ngước mắt lên chờ đợi một mệnh lịnh, mệnh lịnh dưới hình thức đề nghị thiệt bình thường nhưng giúp chị ra khỏi cảnh bối rối hiện tại không biết mình phải làm  gì mới đúng cách và trọn đạo.

   ‘Chị Sáu với con Huê ‘quá bộ’ ra ngoài nhà tiếp khách đi,’ chú Hai Một nói như ra lịnh, nói lựa chữ văn hoa một cách ăn trét. ‘Bà con lối xóm nghe tin hồi nào không biết mà đã kéo tới chia buồn coi bộ hơi bộn rồi đó. Ðầy nhà! Mà tôi thấy  có ai ở ngoài đó lo trầu cau nước nôi gì cho khách đâu,’  Chú ngừng một chút ngó vô con Huê  bây giờ mới day mặt lại phía  ánh sáng. ‘Với lại ba cái chuyện  nầy nên để tôi. Nghề nghiệp ai người  nấy làm. Chuyện nầy đâu phải ai cũng mó tay mó chưn vô được.’ Một  lần nữa chú ngó về phía con Huê. ‘Ðàn bà con gái gần hơi người mới đi không nên đâu.  Ðộc lắm. Về sau bị bịnh hậu khó  lòng.’  Mặt con Huê, nãy giờ nước  mắt đã lăn rơi, buồn lâm ly, đổi sắc liền,  mừng thấy rõ, nó bỏ bộ quần  áo xuống rồi đi vòng về phía đầu  giường của ba nó, sẵn sàng bước  ra. Chị Sáu trái lại chỉ hơi khựng lại một chút khi nghe nhắc tới mấy tiếng không nên nhưng rồi cũng tiếp  tục cố gắng tuột tay áo của chồng  ra. Cái áo đã được mở  nút cẩn thận, phơi màu da ngực xám ngắt của xác chết dưới ánh đèn.  Cánh tay cứng đơ, cà huynh cà hoang,  tay áo dính một lớp bùn mỏng thêm  phần trở ngại. Chị bậm môi hè  hụi giựt mạnh nhưng cũng không ích  lợi gì, chỉ làm rớt lộp độp lớp bùn  khô xuống giường như bánh tráng nướng bể. Bộ mặt người chết nhăn nhăn với cặp  môi đã bắt đầu rút, lòi răng ra cười ngạo cảnh tượng.  Cánh tay thây ma cứng cong, trì lại phản đối không cho thay bộ quần áo  cuối cùng trong đời mình. Chú đánh thêm một đòn tâm lý trong khi thong thả cho tay vô túi trong lục kiến gói thuốc Job đỏ lận theo từ đằng nhà.

   ‘Chết bất đắc kỳ tử linh lắm.  Ngày giờ trùng thì chuyện gì cũng  có thể xảy ra. Tránh trước thì  hơn. Trùng tang liên táng xui mấy đời  chớ không ít đâu. Chị với  con Huê làm ơn dang ra cho tôi.’

   Chú ngừng nói, đứng yên, điếu thuốc đã an vị trên môi, tay mặt cầm sẵn diêm quẹt nhưng chưa quẹt lửa, cố ý đợi hai người phụ nữ bước ra. Thân nhân nào cũng sẽ khó chịu khi thấy xác của người thân bị kéo nắn mạnh tay, mười người như một, ai cũng  năn nỉ nầy nọ, xin xỏ vầy khác.  Khó lòng. Chú thấy công việc mình làm phải mang tính cách thiêng liêng, bí mật, càng ít người biết  mình làm gì với cái xác chết  càng tốt. Chú đưa tay rờ rờ  cái mặt lạnh tanh của thây ma, rồi bằng  một cử chỉ thiệt nghề nghiệp chú  đưa hai ngón tay cái-trỏ  ra kéo kéo  hai môi người chết lại cho khít khao hơn như ngầm nói tôi đã sẵn sàng rồi, mời bà con nhường chỗ cho tôi. Tay chú đụng vô chỗ lạnh hơn mình  tưởng, chú chửi thầm trong bụng cái thằng nhậu nhẹt chết bờ chết  buội, ngâm nước cả đêm để  cho cái mặt lạnh còn hơn đá cẩm  thạch ướp nước đá. Chú đưa mắt ngó con Huê rồi  đão qua má nó. Thường thường  mời thân nhân của người quá  cố ra khỏi buồng chú chỉ cần xài  tới mấy tiếng không nên đã  là quá đủ, họa hoằn lắm mới phải xài tới mấy điều dọa dẫm  về chuyện bệnh hậu, trùng tang liên táng mà  chú học lóm,  khi đi đám đó đây, từ mấy bô lão biết chút  ít bói toán thuốc men.

    Người đàn bà bỏ cánh tay chồng  xuống với một tiếng thở thiệt dài như là bà nín hơi từ lâu lắm bây giờ mới được phép  thở. Cách bỏ xuống cũng nhẹ nhàng, ẩn chứa trong đó cả một trời thương yêu. Nhè nhẹ, chầm chậm bước  lần về phía cữa. Khoảng cách chỉ vài bước mà như xa thăm thẳm,  vừa bước đi vừa ngó ngoái lại như không muốn mất những phút giây chót với chồng.  Ra khỏi đây rồi, lúc trở vô người chồng đầu ấp tay gối — người mới  hôm qua còn gây gổ với chị —  một sự gây gổ nhẹ nhàng càm ràm, quen thuộc trong bao nhiêu năm trời, khiến  chị cảm thấy mình hiện diện và  là một thứ gì khác với những  đồ vật vô tri trong nhà — bấy giờ  sẽ thật sự trở thành một cái  xác chết đúng nghĩa, hoàn toàn là  một cái thây ma lạnh lẽo chờ tới  giờ để được bỏ vô hòm  đem chôn. Hư vô, mất tuyệt từ  đấy.  Xa cách đời đời, thật  sự, tuyệt đối từ đây. Một  xa cách mặc dầu không hình dung được,  mới chỉ lắp ló trước mặt  đã cắt đứt ruột gan, khiến chị  chưa gì đã thấy mình bơ vơ, nhỏ nhoi lạc lõng hơn. Chị bật khóc thành tiếng, nấc nghẹn, mặc dầu đã cố dằn xuống ngay từ hồi thấy xác chồng nằm úp  mặt nửa trên nửa dưới ở  bờ mương — sợ nước mắt nhểu xuống mặt ổng ổng khó đi đầu  thai. Chị bỗng nhiên thấy tức mình  tại sao bữa hổm ổng đòi uống thêm xị nữa chị tiếc tiền và sợ ổng  bịnh không cho con đi mua lại còn biểu nó dấu cái chai đi. Phải dè sớm như vậy ổng muốn uống mấy ghe tàu cũng bán nhà mua cho ổng không tiếc tiền. Chị cũng tức mình  là tại sao mấy năm trước nghe phong  thanh ổng mèo mỡ chị đã làm quá mạng, cằn nhằn cưỡi nhưỡi,  cắn xé. Phải dè… Phải dè… Chị kêu tên chồng, cách thân mến rất ít khi sử dụng từ ngày có đứa  con đầu tiên. Con Huê áy náy nắm cánh tay mẹ, chỗ con chuột, mà nó có  cảm giác là đầy xương, dẫn ra cửa. Mắt ngập nước, nó cũng  ngó ngoái lại lần chót ba nó, vẫn  còn nằm trong một vị thế lạ lùng,  một cẳng co vô bụng, một cẳng thẳng ra luôn cả bàn chưn, như người đương kiếm cách leo lên khỏi mương  nước, hai bàn tay quắp cứng ngắc hai nắm bùn bây giờ đã khô,  mấy chỗ tứ chi ló ra khỏi quần áo  bao trùm một màu xanh xám đen đen lạnh  lẽo khiến nó bắt rùng mình. Chị  vợ ngó lại lần nữa thi thể người  chồng, gật đầu chào chú Hai Một, rồi như len lén giở màn bước  ra. Những giọt nước mắt được  kềm giữ quá lâu thong thả bò trên  gương mặt chị, nhểu xuống ngực  áo khi chị bắt gặp những ánh mắt thân tình chia xẻ niềm đau xót của  bà con lối xóm bây giờ tới đã tới ngồi đứng chật nhà.

    Chú Hai Một nao nao theo dõi hai mẹ con lúp  xúp đi trong tiếng thút thít, ánh mắt  chú đậu lại trên cái lưng đầy sức sống và bộ hậu láng o  của đứa con gái — được  ôm bằng cái áo bà ba bó sát và  cái quần vải đen dầy ủi thẳng thớm.  Chú nheo mắt với mình và cười  cười…

   Ngoài kia chú nghe rõ tiếng chào của chị Sáu với bà vợ mình. Tiếng  khóc của bà ta nín bặt ngang xương. Chú nghe loáng thoáng câu trả lời của vợ: ‘…  Ừ… Kể từ trưa mai cho tới giờ hạ huyệt tôi sẽ ở đây… Ừ..  tiền bạc gì. Ðừng có lo chạy  cho mất công. Bà con mình không, ai cũng  nghèo chứ đâu có dư dả gì.. Nói nào ngay, tôi cũng đâu giàu  có gì hơn với mớ đó’. Tiếng  khóc lại nổi lên, bi thương thập bội hơn giọng tỉ tê nhè nhè của vợ người  quá cố. Dòm qua chỗ hở do tấm màn  bị vướng, chú Hai Một thấy vợ  mình đầu bù tóc rối dụi dụi  mắt khóc kể như chết cha chết mẹ.  Bà ta nhảy từ nhân vật nầy qua nhân  vật kia. Ban đầu là bà mẹ vợ. ‘…. Sáu ơi là Sáu ơi, nhà nầy một mình mầy lo từ trong ra ngoài. Vợ  con mầy giờ đây làm sao đủ sức  chống chỏi với đời.  Ði đâu  thấy món ngon vật lạ mầy cũng mua về  cho tao, bây giờ mỗi khi thấy quán thấy hàng làm sao tao không khóc được,  Sáu ơi là Sáu ơi.’ Rồi tới  vợ, tới con gái, mỗi người  thím đều sáng tác giùm một bài văn tế bình dân nôm na như vậy, kể  công đức người chết, vài phần thiệt, vài phần phóng đại những  hành trạng mà nếu nghe được chắc  người chết cũng phải hổ ngươi.  Chỉ có một điều là giọng kể  lể của thím lâm ly quá, nước  mắt của thím sụt sùi quá khiến  người nghe không còn đủ bình tỉnh tâm trí để phân biệt đâu thiệt  đâu ngoa. Một cảm giác xấu hổ mà chú thường có khi vợ khóc đám  người quen như kiểu thằng cha Sáu Say nầy len lỏi vô tim chú. Chú ngờ- ngợ như vợ mình làm điều gì  sái quấy, quá đáng, hơn sự phải  có của điều bình thường, hơn  sự bắt buộc của nghề nghiệp. Vừa lúc đó con Huê quay lại, đưa  tay kéo cái chéo tấm vải màn xuống  cho kín cửa buồng. Chú dòm lom lom bàn  tay tròn trịa của con nhỏ cho tới khi  ánh sáng trong phòng trở thành lù  mù. Chú đốt điếu thuốc, dựa  vách ngó xác chết, thong thả hít từng  ngụm khói say sưa. Mỗi khi trong người  có chuyện buồn vui lẫn lộn, những  hơi đầu tiên của điếu thuốc vẫn  là một thứ thần dược giúp  chú tỉnh táo trở về thực tại  với một tinh thần sáng suốt vô biên. Chú vạch màn dòm ra ngoài nhà trên như là tìm kiếm ai, ánh mắt chú đậu lại phía có con Huê đương đứng.  Nghĩ sao không biết chú bước hẳn  ra ngoài tới một bàn, cầm lấy chai  rượu đế rót đầy một ly lớn, mỉm cười chào mấy người ngồi  ở bàn đó rồi quày quả bước vô. Chú cẩn thận bỏ màn xuống,  kéo mí lại như ngại ánh sáng bên  ngoài có thể chui vô phòng. Tới bên xác chết, chú thiệt sự bắt  tay vô công việc: phun phun, bóp bóp sửa nắn lại cho vào vị thế bình thường bộ tứ chi trước đây đã  cứng đơ cứng còng. Chú cắt rách tay áo và ống quần của xác  chết bằng cái kéo nhỏ, vật liệu  độc nhứt chú mang theo mình như một thứ dụng cụ nghề nghiệp. Chẳng bao lâu cái công việc mà người  vợ nạn nhân loay quay hàng giờ không  thực hiện được đã được  chú hoàn thành mỹ mãn. Anh Sáu Say bây  giờ đã thiệt sự ngủ say trong một tư thế thoải mái, thanh thản. Chú Hai Một bước lùi một bước,  ngắm nghía công trình mình, chú mỉm  cười hài lòng và tự thưởng  bằng chút cặn rượu còn sót lại  trong ly…

  Tôi náo nức thiệt tình! Tôi sẽ gặp được cặp vợ chồng truyền nhân chánh của một nghề đang sắp  biến mất trong một xã hội trên đà  chuyển mình Âu hóa như cái thành  phố Sài-gòn nầy. Ðường có xa, có lạ cũng chỉ là dịp để  mở rộng nhãn quan thôi… Chúng tôi  đi qua cầu chữ U ở bến Thuyền Buồm (Quai des Jonques), một cái cầu tuy lót  cây nhưng cao chưa từng thấy. Chiếc mô-bi-lết già chạy tới đâu đà cây lót cầu rung rinh nhúc nhích  la hét ầm ầm tới đó, những  chiếc bù lon sắt khổng lồ đưa lên như hàm răng con quái vật cầu sẵn sàng cắn vô vỏ bánh xe. Cây  ván trơn chao đảo tay lái, tôi phải  kềm thật vững.

   Ðã hết đâu.  Lại còn qua một cái cầu chữ U khác y hịt như vậy ở ngay trước chợ  Bình Ðông.  Sao vùng nầy lạ lùng vậy, cầu cao không tráng xi-măng hay trãi nhựa, chỉ lót bằng  cây mà lại lót xuôi theo đường  xe cộ chạy?

   Người dẫn đường như đoán  được ý tôi, giải thích ba hoa. ‘Vùng nầy không có thế để làm  dốc nên cầu phải xây hình chữ  U, cũng không thể xây bằng vật liệu  nặng vì bờ kinh hẹp, đất hai bên  lại mềm, không có chỗ đúc móng  chưn cầu. Phải xây cao cho ghe chài qua lại  bỏ lúa vô chành hay lấy lúa từ  trong chành ra chở đi Lục tỉnh, lên  Nam Vang… Ngày trước ghe chài ra vô  khúc kinh nầy liền liền, bây giờ có thêm kho chứa ở Bến Tàu nên  ít đi đó chớ.

   Tuy không biết rõ ràng danh từ chành là gì nhưng tôi cũng mường tượng  đoán được đó là một thứ  kho chứa trữ nên mần thinh không  hỏi như mọi khi. Cảnh tượng quê nhiều hơn tỉnh của vùng nầy trở  thành một thứ loại ven biên đô thị mới ngó qua đã bắt mắt nên tôi cũng làm biếng nghe thêm. Cái thằng cha nầy có khả năng nói chuyện nầy qua chuyện kia lòng vòng ba bốn ngày không  hết, đừng nên khươi cho nó nói  không nhằm lúc.

   ‘Gần tới chưa?’ Tôi hỏi cũng  là cách dẫn anh ta vô chuyện chánh. ‘Sao chưa thấy cái đình anh nói?’

   ‘Ði đò qua bên bờ kia. Ðó là làng Bình An, đình Bình An cách bến đò chừng một cây số  ngàn,’ hắn trả lời rành rọt. ‘qua đò rồi lội một đổi nữa thì tới nhà họ. Không xa đâu.’

   Lại còn thêm chuyện đò! Ánh mặt trời chói chang trên đỉnh đầu.  Coi bộ hơi trưa. Sài-gòn lẩm rẩm  mà rộng thinh thang, đi nửa ngày từ  trung tâm chưa ra tới ven biên.

   Con đò ngang đưa khách qua bên đình do một cô gái trắng trẻo độ mười sáu mười bảy tuổi thong thả đẩy đưa mái chèo. Những nhịp đẩy-kéo căng lên căng xuống bộ ngực tròn mạnh thiếu nữ. Nàng thành thạo,  không tỏ vẻ gì tốn sức tốn công.  Tôi chợt nhớ tới chuyện thơ nàng Tiên Bửu xinh đẹp, thông minh chèo đò. Chỉ tiếc mình  không có bộ râu dài phất phơ và  tài đối đáp như ông Trượng.

   Cảnh vật hai bên bờ kinh hiền hòa.  Nhà cửa  khang trang của một vùng quê  trù phú. Mạ non xanh mởn. Sóng lụa rung rinh trên đầu lúa. Gió mát thơm mùi hạt lúa còn đương ngậm sữa. Vài căn nhà lá ẩn hiện sau những  tàn cây mít, vú sữa xum xuê. Nét thanh  bình có thể cảm thấy vương vương lãng đãng cùng khắp không khí. Trong khung cảnh như vậy mà gặp được  một cái đám ma để quan sát luôn  tài nghệ của vợ chồng Hai Một ‘ra đám’, ‘khóc đám’ thì  còn gì thích thú bằng. Một công hai  ba việc. Khỏi phải đi về chờ đợi  lôi thôi.

    Tôi mừng rỡ khi nghe tiếng kèn đám  ma văng vẳng từ xa xa khuất đâu trong xóm. Trúng mối rồi. Mấy thuở  trời chìu lòng người, cầu được  ước thấy.

    Vậy mà tôi không được chứng  kiến gì hết những điều cần chứng kiến, mặc dầu kèn đám  ma đương ò-e ngay tại nhà ông Hai  Một. Tôi không gặp một ông ‘nhưng  quan’ tài nghệ đặc biệt,  điều khiển  mọi chuyện liên quan đến động quan, di quan bằng nhạc của hai khúc tre. Tôi không  gặp một người đàn bà bán nước mắt, khóc mướn trong mấy  đám ma, ré lên từng hồi cắt dạ rồi xuống giọng tỉ tê bi thảm  đau thương, kéo dài ngày nầy qua ngày  khác từ lúc tẩn liệm cho tới  khi hạ huyệt. Những hình ảnh lạ lùng tôi có trong trí vẽ ra do người dẫn  đường khi giới thiệu về cặp  kỳ nhân nầy không thấy đâu nữa.  Còn lại chăng là một cặp vợ  chồng già héo úa từ sâu thẳm trong lòng héo ra, một thứ cây chết  rũ, một loại người bị chấn thương do Tây tà tra tấn bằng bàn tay sắt bọc  vải, bầm nát ngũ phủ lục tạng tuy  bên ngoài vẫn còn chút nào đó  dáng vẻ bình thường.

   Người đàn  ông ngồi đó, mặt co rúm nhăn nheo của một thứ trái chín héo vì quá nắng, mắt ơ hờ ngó ra con đường đất đỏ bụi mù trước mặt, bất động tới cả từng thớ thịt mặt.  Tôi biết chắc chắn cái hàng rào bông bụp đầy bông nở đỏ thắm ngoài  kia, cái hàng rào đặc biệt được  đóng cột bằng mấy cây so đũa trái lòng thòng và sợi dây kẽm giăng kế đó, nơi con gái ông phơi  quần áo hằng ngày, không lọt vào trong giác trường của ông. Kể cả  những người học trò đạo tỳ  mặc quần áo đen viền trắng lăn xăn  lít xít vì chuyện của thầy cũng vậy  thôi, không có. Thời gian và hoạt cảnh trên cõi đời nầy hình như  đối với ông không còn nữa.  Dàn  đờn trổi ò-e ngưng trổi không  biết bao nhiêu chập, tôi để ý nhưng  không thấy vợ chồng ông Hai Một  nhúc nhích cục kịt gì, ngay cả khi một người đệ tử tới trước mặt ông  cung kính xin phép cho mình được thay ông điều khiển cuộc ‘di quan’, ông  cũng không trả lời hay hạ cái màn  vô hồn trước ánh mắt mình xuống,  mặc cho đám đệ tử và ông Hòa Thượng già điều khiển việc  khiêng cái hàng ra khỏi khung cửa chật hẹp của căn nhà. Hai chung rượu  để trên nắp hàng sóng sánh rồi tràn ra vài giọt do sự điều khiển không thành thạo của người đệ tử trẻ ông cũng không thấy, không  biết. Hồn ông đương ở trong một  cảnh giới ta-bà nào đó xa xăm, chỉ cái thân xác ngủ uẫn hiện diện  mà thôi.

    Ðám ma ra tới đầu ngõ,  ông Hai Một mới choàng tỉnh khỏi cơn mộng du, đứng dậy bước chậm rãi theo vài ba người đi chót  sau khi đã ngó bà vợ và lắc đầu trong tiếng thở dài. Người  đàn bà ngồi trên cái ghế dựa, mắt vô hồn ngó tôi khi tôi tới  kế bên nói mấy lời chia buồn cho  phải phép. Không có một giọt nước mắt nào trên khóe mắt của người  đàn bà suối lệ dễ tuông này.  Không có cả một hít, khịt mũi nhỏ  nhoi. Không có cả chuyện đỏ hoe hai mắt hay tiếng kể lể phân bua. Vậy đó.  Một sự im lặng tuyệt đối của môi trường chân không. Vô  lý tới khó tin.

   Tôi ngó lại lần nữa tấm hình  người quá cố. Cô gái có nụ cười thật buồn nhưng vẻ trẻ trung  làm nao nao lòng người. Ðôi mắt sâu thăm thẳm của cô khiến ai nấy  dòm qua một lần cũng phải ngó lại  một lần nữa. Cái đẹp man dại  và lôi cuốn. Cái đẹp của một cánh đồng đầy hoa thắm bên triền núi rộng cao. Có thể hình ảnh cô  gái trẻ mới chết có sức mạnh  tạo xúc động cho người sống –và một chút bằng lòng vì sự bất hạnh giáng xuống người khác chớ không phải mình — khiến phải ngó thêm. Tôi thấy trí mình  coi bộ cải lương khi bỗng nhớ tới  câu thơ có mấy chữ ‘hồng nhan bạc mệnh.’

  ‘Vợ chồng họ làm nghề thất đức nên  bây giờ như vậy đó,’ người dẫn đường kéo tôi  về thực tế khi anh bấm tay tôi nói nhỏ. ‘Cha tẩn liệm, di quan người khác lôi thôi, nên Trời khiến tới phiên con mình thì sững sờ  muốn tự tay săn sóc cũng không làm  được. Tụi học trò đạo tỳ nó làm  đâu có đúng lễ. Hồn ma trước  đây họ về trả thù đó. Biết  bao nhiêu lần ổng bẻ tay bẻ chưn thiên hạ mạnh tay hay làm ẩu xị cho qua. Biết  bao nhiêu lần ổng thay áo thay quần hay tẩn  liệm dụt chạc, nhứt là người  nghèo… Ðể rồi coi, hồn cô ta còn  lẩn quất nhiều ngày trên trần thế  chưa xuống dưới đó liền được  đâu. Thiếu lễ đi đâu có xuôi  chèo mát mái. Nhiều khi nó về nó phá nữa là khác.’

   Không đồng ý với nhận xét nầy, nhưng tôi không cãi. Con người ta  sinh ra vốn là mục tiêu cho những tấn  kích cách nầy cách nọ của tất cả ai khác trên đời, huống gì  chú Hai Một làm một nghề thiên hạ  chỉ thấy sợ hải và xa cách.

   Không muốn khơi mào một cuộc đấu  khẩu vô ích, tôi chỉ qua thím Hai Một,  chưa kịp nói gì thì người dẫn đường  đã lên tiếng, lần này pha một chút  giọng thầy đời.

   ‘Thói thường thương vay khóc mướn  tới khi cần khóc cho mình thì hết nước mắt.’

   Phải, điều gì xài quá thì mau hết,  cái lý đó cũng đâu có gì là khó hiểu. Nói một cách trừu tượng,  cái tình thương bà ta xài cho thiên  hạ trong bao nhiêu năm trường ‘khóc đám’ khiến cho bà ta cạn tuyệt tình  thương đối với con gái mình. Suối  lệ cạn nguồn người ta thường  nói vậy hoài.

   Vâng, lý luận này có vẻ hữu  lý nếu — và nếu, và nếu — tình thương là một dạng của vật chất cụ thể. Con  người ta thường tỏ ra mình thông  thái, mình phải, mình hay như cái anh chàng  nói nhiều nầy. Mấy ai biết được  và thông cảm được với vợ chồng ông nhưng quan Hai Một. Tình thương con biển trời lai láng của họ khiến  tất cả những biểu lộ bình thường khác đã trở thành vô nghĩa, không phù hợp. Với người sơ tôi đã khóc, và đã khóc mùi mẫn, với con gái cưng  của tôi, tôi cũng khóc như vậy hay thôi sao? Tại sao tôi phải giống thiên  hạ biểu lộ tình thương bằng nước  mắt kia chứ? Có sự khác biệt  giữa con gái tôi và người thiên  hạ chứ? Nếu khóc đám làm xôm đám chớ không biểu lộ tình yêu thương  chân thật thì cái gì mới diễn  tả được lòng thương con của  tôi đây. Con ơi, con nỡ bỏ cha mẹ  già một mình ra đi sao con…

  Tôi dòm lại dáng thất thểu của  chú Hai Một sau đuôi đoàn người. Bước thấp bước cao, hụt hẫng như một hình nộm được điều  khiển vụng về. Tôi ngó lại thím Hai Một, cũng dáng ngồi đó không biết bao lâu rồi, hai tay buông xuôi trên vế, bất động của một pho tượng  đất sét, thểu não của một thứ người tuyết đương tan rã từ  từ. Thím sẽ ngã xuống. Chắc chắn  như vậy.

    Tôi bỏ ra về, không dám ngó lại  một tấm hình khác ở trên bàn thờ.  Cuộc  đời người con gái đó bình thường, cái chết cũng có thể rất bình thường  nhưng một nhân duyên đặc biệt đã  hé mở cho tôi một cánh cửa để  nhận thấy rõ ràng về tấm lòng nhỏ  nhen, ganh ghét của người đời  nói chung và nỗi đau đớn khôn  cùng của cặp vợ chồng già mất  con trẻ nói riêng.

  Trên đường về không khí bỗng  nhiên nặng nề u ám ngang. Tôi ngậm câm cho tới  lúc chia tay.

    Tại sao?

   Tôi xúc động vì lòng thương con  trời biển bao la đến nỗi mất hồn  của cặp vợ chồng nhưng quan – khóc  đám Hai Một. Mà cũng có lẽ là  do tình cảm trân trọng đối với  một cánh rừng đang chứa chấp một loài trân  cầm dị điểu kỳ hoa hiếm hoi đang trên đà  tuyệt chủng.

   Sau nầy lắm lúc ngồi ôm súng ở  một vùng đồi núi cao nguyên, đêm  về bốn bề tĩnh mịch, giữa cảnh  trùng trùng của bóng tối bao la, trí  nhớ bình bồng trôi về quá khứ,  tôi ngạc nhiên thấy kỷ niệm của  mình về Sàigòn không chỉ nằm trong  chỗ những sinh hoạt ồn ào tục tằn  ở các khu ổ bùn lầy nước đọng từng sống một thời gian  dài lúc trẻ, và những nơi có  kiến trúc nguy nga tráng lệ có dịp đặt  chơn tới sau nầy khi đã  thành nhơn, mà còn nằm ở cảnh  trí đơn giản của một buổi sáng  ven đô nơi ít người biết tới  là làng Bình An bên kinh Ruột Ngựa, chỗ căn nhà có hàng rào bông bụp, xen kẻ bằng hàng cây so đũa lòng  thòng trái…

   Không ai chịu mất thì giờ đào  sâu vào chốn tận cùng tâm hồn mình  để tìm hiểu những yếu tố cụ  thể nào khiến mình yêu đậm đà  quê hương xứ sở, thân mến  tuyệt cùng với nơi mình lớn lên  trong buổi đầu đời.

Mà cần gì  tìm hiểu nguyên nhân?

Sàigòn cũng  vậy, đối với tôi thân thiết, đáng nhớ, xa trong thực thức nhưng  tiềm thức không bao giờ xa. Bao nhiêu  đó đã là quá đủ. Một vài  chi tiết cụ thể về nơi nầy nơi nọ, người nầy người kia, nói cho cùng, cũng chỉ như một nhúm sao nhỏ nhoi trong vũ trụ bao la của triệu triệu dãy Ngân  Hà.

Nguyễn Văn Sâm

(Port Arthur, Texas, 3- 1992, những ngày dạy học trầm buồn ở quê người. )

Câu Chuyện Về “Chiếc Áo Dài Truyền Thống”

Bách Việt

aodai-2Chị Hai thương,

Lại một mùa thu nữa đến với chúng ta. Mùa thu ở Bắc Mỹ đẹp quá phải không chị? Em thích ngắm cây vàng lá đỏ trong những ngày nắng nhạt,  trong khi chị phàn nàn vì phải lo hốt lá bỏ đi để chuẩn bị cho những ngày lạnh sắp tới. Em lại luôn nhớ những mùa thu đẹp lúc em còn ở Nhật với những bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ và các hàng cây ngân hạnh chung quanh nội trú em ở.

Đối với chị em mình, Hoa Kỳ là đất nước thứ ba. Đối với em nuớc Nhật  như là một quê hương thứ hai, sau quê Cha đất Tổ của mình. Em rời nước Nhật cũng đã lâu, nhưng  mặc dù luôn bận rộn với những sinh hoạt hàng ngày, thỉnh thoảng em cũng xem TV, các tài liệu hay các phim Nhật để khỏi quên tiếng Nhật. Mấy tuần qua em xem những phim  tài liệu về lịch sử Nhật Bản từ thời cổ đại Nara trong thế kỷ thứ 8, thời đại Heian, thời  trung cổ Kamakura, Muromachi, thời đại Edo và những cải cách của triều đại Minh Trị Thiên Hoàng, mở đầu cho những bước nhảy lớn về mặt kỹ thuật của những năm Taisho, Showa… cả đến sau khi Nhật bị bại trận trong Thế chiến thứ hai, và những sự canh tân của họ cho đến bây giờ.

Lúc theo chương trình của đại học Nhật, em đã không muốn học môn Sử học Nhật mà chọn môn khoa học nhân văn khác cho đỡ rắc rối, vả lại chuyên khoa của em cũng không phải là ban Văn chương.

Tại Hoa Kỳ em vẫn gặp những cộng đồng của họ ở khắp nơi. Em rất cảm kích khi thấy người Nhật cố gắng gìn giữ văn hóa của họ từ đời nọ đến đời kia. Ngoại trừ một số người Nhật di dân vi sinh kế trước thế chiến thứ hai, hầu hết những trẻ em Nhật sinh ra ở Hoa Kỳ đều được cho đi học và biết đọc biết viết tiếng Nhật. Dù cha hay mẹ các em thành hôn với người Mỹ hay một người  ở nước nào khác, các em được gia đình cho về Nhật hàng năm vào dịp nghỉ hè, để học hiểu thêm về văn hóa của mình.

Em không phải chỉ biết ca tụng nước Nhật mà quên đi đất nước của mình. Quê hương Việt Nam của những thập niên 60, 70, vẫn luôn ở mãi trong lòng  em, dù đã qua nhiều năm sau ngày em được gia đình cho đi du học.

kimonoChị Hai, em muốn nói với chị, em có ấn tượng rất sâu sắc về văn hóa lịch sử của nước Nhật qua các thời đại. Dù đã trải qua hơn một ngàn năm, chiếc áo Kimono của họ vẫn còn giữ tinh thần dân tộc đất nước Phù Tang. Dù là quốc phục của vua chúa, sứ quân, các vương phi, công chúa, dù là trang phục của hoàng tộc, của giới Samurai hay của dân gian, dù là phẩm phục hay áo cưới, áo tang, chiếc áo Kimono vẫn không thay đổi mấy. Em muốn nhấn mạnh đến chiếc áo Kimono của phái nữ. Dĩ nhiên theo thời gian và với sự tiến bộ của kỹ thuật, áo Kimono mang màu sắc và may bằng các loại tơ lụa khác nhau nhưng những điểm chánh vẫn còn được gìn giữ: cổ áo, tay áo, chiếc Obi và sợi dây thắt lưng buộc chặt ngoài áo, lớp áo trong và các sợi dây thắt bên trong, đôi vớ Tabi và đôi guốc gỗ Geta, hay đôi hài Zori. Tóc các phụ nữ Nhật  được búi cao kèm theo chiếc trâm cài, hay cái lược giắt. Phụ nữ Nhật ở các lứa tuổi khác nhau vẫn còn mặc y phục cổ truyền này khi tham dự các Lễ hội, ngày Tết, các dịp đặc biệt như Trà đạo, cắm hoa Ikebana, lễ tốt nghiệp, đám cưới, đám tang. Họ vẫn giữ được vẻ duyên dáng, kín đáo nhưng hoạt bát, khiêm tốn nhưng tự trọng, và họ rất hãnh diện về chiếc áo Kimono và văn hóa của họ.

Chị Hai, nói đến truyền thống của người, em không khỏi ngẫm nghĩ đến sự thay đổi của quê hương mình. Chỉ mới mấy mươi năm thôi mà hầu như đã có quá nhiều biến đổi. Bản đồ Việt Nam không còn giống như bản đồ chúng em học ở bậc tiểu học. Văn hóa của mình cũng khác xưa, mà nhất là chiếc áo dài Việt Namcủa mình. Còn nhớ ngày xưa các chị học trường Áo tím, đến khi em vào lớp Đệ thất thì màu áo đồng phục đã thành màu trắng. Chiếc áo dài trắng với phù hiệu gắn trên cổ áo là niềm tự hào và là khuôn mẫu, là nền nếp giữ gìn và nhắc nhở em luôn nhớ mình là thanh nữ Việt Nam, là con cháu của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, luôn cấp tiến để theo kịp với nền văn minh của thế giới, nhưng vẫn không quên những truyền thống của Tổ tiên mình để lai. Bây giờ mình đã là người Mỹ gốc Việt, nhưng em vẫn giữ mãi quan niệm nầy.

Em luôn ấp ủ trong lòng những ngày xưa khi còn là nữ sinh cắp sách đến trường, khi cha mẹ mình còn sống, khi mà tất cả chị em mình còn quây quần trong buổi cơm tối ở nhà. Bây giờ rất nhiều việc thay đổi. Khi về thăm quê hương, nhiều điều nghe, thấy và cảm nhận, nhiều việc thay đổi làm mình cứ ngỡ là đang ở nơi xứ lạ, mà ngỡ ngàng nhất là sự thay đổi của chiếc áo dài trong tâm tưởng của em.

Chỉ qua cách ăn mặc mà nói, phụ nữ bây giờ có nhiều chọn lựa hơn, văn minh hơn, họ có thể trông xinh đẹp hơn; nhưng cái vẻ thuy mị dễ thương, cái nét nhu mì kín đáo của phụ nữ Việt đã “phai đi ít nhiều”.

aodai-3Em còn nhớ thời chúng mình còn đi học, nết na đức hạnh là điều phụ nữ phải có trong xã hội Việt Nam. Quần áo mặc phải vừa vặn, không được chật quá, không được mỏng quá. Những cô thiếu nữ có bộ ngực nẩy nở nhiều có khi còn phải nịt cho chặt để khỏi bị người ta phê bình. Áo dài ngày nay lại được thiết kế theo Âu Mỹ, khoét trước, hở sau, vai, bên hông cũng hở, có khi cho thấy cả đồ lót và da thịt bên trong. Nhiều khi em nghĩ theo tâm lý, cái gì kín đáo càng khiến cho người ta muốn tìm hiểu thêm, chứ bày ra hết rồi, còn gì để mà khám phá? Cách tân theo các nhà thiết kế y phục Âu Tây, riết rồi cái áo dài cũng bị bầm dập tơi tả, Âu không ra Âu, Á không ra Á. Có kiểu trông như là mode của Victoria Secret. Em còn nhớ mẹ của chúng ta đã tiên đoán khi xem các show nhạc trên TV mấy năm trước khi bà qua đời: “Trong tương lai mấy cô gái chắc chỉ còn bận áo nịt ngực và cái quần bikini khi ra đường!” Lời tiên đoán này đã trở nên thật rồi.

ao-dai-cach-tanLại còn biến thành áo kiểu Tàu nữa. Có kiểu áo đi với nón hoàng hậu, nhưng bên dưới lại không giống ai; Hoàng hậu Nam Phương còn sống cũng phải giật mình! Lại có bán áo trên mạng mời gọi người ta mua “Áo dài siêu mỏng”. Em nhớ khi em ghé Sài Gòn trên đường đi công vụ ở Á châu sau hơn hai mươi năm xa quê hương, em đã ở qua đêm ở một khách sạn 5 sao. Em rất ngạc nhiên khi thấy các cô tiếp tân mặc áo dài và quần bằng vải thật mỏng. Em lại tình cờ nghe các khách ngoại quốc phê bình là “Con gái ViệtNam mặc đồ sexy quá”. Không biết có ai nhận những lời này như một lời khen không, chứ lúc đó em thật buồn cho thân phận người phụ nữ.

Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!

Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?

Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh!

Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

Chị Hai, em chấm dứt thư này với bài thơ “Chân quê” của thi sĩ Nguyễn Bính. Nàng chỉ làm dáng khi ra tỉnh về mà thi sĩ đã van xin đừng bỏ vẻ chơn chất mà chàng yêu quý. Chiếc áo dài đã bị cắt xén và trở nên méo mó nhiều cách đã đành, chỉ mong tinh thần bên trong của người mặc áo vẫn còn nguyên vẹn, trinh trong.

Áo dài mà tự nó nói được, chắc nó sẽ yêu cầu: “Làm ơn để cho tôi yên.”

Không biết áo dài của chúng ta sẽ đi đến đâu? Tương lai chiếc áo dài trong tâm tưởng và quê hương bị lấy mất của chị em mình sẽ đi đến đâu?

Đời của ta mà tâm tưởng cũng là ta

Sao người nỡ dang tay phá bỏ?                                                                

(Trích từ “Đời qua sông”, Bách Việt)

Không biết chiếc “áo dài thời trang” sẽ còn…thời trang đến đâu? Nghĩ đến chiếc Kimono của phụ nữ Nhật lòng em thật buồn. “Chiếc Áo dài truyền thống” bị mất, người phụ nữ Việt Nam còn lại cái gì để tự hào? Biết nói ra sẽ làm nhiều người không vui, và có thể đã quá trễ, nhưng thật “chẳng đặng đừng”.

Phải chăng chuyện chiếc Áo dài chỉ là “chuyện nhỏ” trong muôn vàn chuyện lớn đang cần phải làm lại của đất nước Việt Nam?

GL Bách Việt  

Mùa Thu 2016                                                                                                                                              

Giọt Nước Nghiêng Mình…

Nguyễn Văn Sâm

Phong sương mấy độ qua đường phố,
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…

Sơn Nam

mua-ve-dem-lanh-leo-co-don-nhat

1.

VA, xe chạy đường trường hơn một giờ, lòng vòng trong xóm quê thêm độ nửa giờ nữa thì rẻ vô một khu hơi nghèo vắng rồi ngừng lại trong sân một căn nhà có vẽ khang trang trên khu đất rộng. Tấm bảng sơn xanh chữ đỏ có tên ngôi chùa nằm khiêm nhường bên một cội cây cành lá xum xuê. Tên chùa cũng bình thường nhưng chữ chùa khiến già Thanh có cảm tình hơn tiếng tự thường gặp. ‘Chùa Php Vân.’ nghe gần gũi hơn ‘Pháp Vân Tự’ nhiều. Cũng không thấy những câu đối liễn màu đỏ chói chang, mệt mắt với kiểu chữ Việt viết tròn tròn giả Hán tự thường có. Già Thanh nói thầm trong bụng: ‘Chắc chắn sư trụ trì nhiều Việt tính… những chi tiết nho nhỏ như thế nầy rất đáng ngưỡng phục và nên khuếch tán.  Hẵn sẽ có nhiều điều đáng nghe, đáng học ở vị sư nầy.’

Cảnh quang khoáng đãng, vắng bóng những tượng đá trắng rườm rà phô trương tạc những nhân vật huyền thoại chẳng ai biết nghệ nhân lấy chi tiết từ đâu. Chỉ có một mình ngôi tượng mẹ Quan Âm đưa thiên nhãn hiền từ nhìn khách, như theo dõi để che chỡ những bước chân của tín chúng thập phương. Cả ba người bước tới chưn tượng xá ba xá làm lễ ra mắt rồi đến cửa, bấm chuông. Hai chiếc xe quẹo vô bãi đậu, ba cặp khách Mỹ tới dưới chân tượng, chấp tay ngang bụng, nghiêm chỉnh đứng mặc niệm.

‘Hình tượng Phật Bà dễ được kính tin vì tương tợ với hình tượng Đức Mẹ của họ.’ Già Thanh nói với con gái, mắt không rời những vị khách tóc vàng với lòng cảm phục. ‘Chùa Việt Nam nơi xứ người dựng tượng Phật Bà ngoài sân trống trải mục đích là tạo sự dễ dàng cho việc chiêm bái ngoài nghi thức. Người bản xứ chỉ cần đến cầu nguyện rồi về, không phải vào chánh điện, không phải nói chuyện với vị trụ trì, vốn trở ngại về ngôn ngữ tôn giáo.’

Người phụ nữ mỉm cười hãnh diện trao ánh mắt với chồng như thầm nói đạo Phật của mình cũng có chút nào ảnh hưởng lên người bản địa rồi áy náy nói với cha rằng mình rất ngại khi đến đây mà không thông báo trước cho ni sư. Anh chồng nói mình có lý do vì làm theo ý cha từ xa đến muốn thăm linh của cháu, nhân tiện viếng cảnh một ngôi chùa địa phương.

Vậy mà chúng không cho mình biết đây là chùa sư nữ! Già Thanh hơi ngạc nhiên rồi mạnh dạn bước lên thềm bấm chuông. Hình như lâu lắm, chừng hơn mười phút, sư cô trụ trì mới ra mở cửa. Nụ cười hiền hòa và thân thiện chiếm ngay cảm tình của khách. ‘Xin lỗi vì để quí khách đợi hơi lâu. Chùa vắng, ngày thường phải đóng cửa, tín hữu viếng chùa thì bấm chuông, ni  ở đây chỉ có mình mình, phải cẩn thận phòng ngừa những bất trắc.’

Trụ trì thân mật dẫn khách đi viếng phòng ốc. Chánh điện trang nghiêm. Gian phòng thờ các linh sạch sẽ, ấm cúng trong cách trình bày đơn giản. Hình đứa cháu gái chớm tuổi hai mươi đang nở nụ cười vui như cười chào cha mẹ và ông ngoại đến thăm. Con bé toát ra nét trẻ trung yêu đời biết bao bên cạnh hàng mấy mươi hình đồng cảnh khác. Già Thanh nhìn từng hình, từng hình. Hầu hết là những bức hình tươi trẻ. Có thể người nhà đã chọn tấm ảnh đẹp nhứt cho người nằm xuống. Già Thanh không thấy mình khác với họ bao nhiêu khi nghĩ rằng bất kỳ ai trong các hình kia trước đây cũng như mình và sau nầy mình cũng như họ thôi. Người mẹ ngước nhìn hình con gái mình, thân thiết, mắt đỏ hoe, mọng ước, đưa tay len lén dụi. Người cha day mặt ra sau, cúi đầu. Không khí lắng đọng.

Già Thanh muốn đưa tay lên sờ tấm hình cháu ngoại nhưng ngại tạo thêm nỗi buồn cho cha mẹ nó nên đành thôi. Nói nhỏ: ‘Cháu ở chùa nghe kinh, mau siêu thoát.’

Tiếng ni sư phá tan sự buồn thảm đó:

‘Cũng gần giáp năm cháu rồi. Mau quá. Hai tháng nữa chứ mấy.’

Người mẹ:

‘Dạ, sư cô nhớ hay quá. Đến lúc đó cũng xin nhờ sư cô lo liệu mọi sự cho cháu. Chúng con không hiểu biết lắm những gì cần phải làm.’

Tiếng con  của người tín hữu xem chừng bằng tuổi với ni sư trụ trì khiến già Thanh thấy vui vui. Con gái mình đã phần nào đè xuống cái ngã mạn khi thốt ra trôi chảy tiếng con. Bản ngã nói cho cùng cũng là không, chỉ vì con người gán cho nó tánh cách nhập làm một với hình hài huyễn hóa hiện tại vốn bị lầm tưởng là thường trụ, nên ngại ngùng khi sử dụng với người tu hành ngang tuổi đời…

Sư nữ để tay lên vai người đàn bà như chấp nhận, như hứa hẹn…

Sang phòng kinh sách. Từng kệ, từng kệ kinh sách và đĩa kinh giảng.  Ni sư mỉm cười. ‘Khi ni về đây thì phòng nầy rất là lộn xộn, kinh sách chất đống ngổn ngang dưới thềm. Phải cho đóng kệ và xắp xếp lại để ai cần tìm hiểu thêm về đạo dễ dàng tham khảo. Xắp xếp lại, mất thời giờ vậy mà vui. Vô tình thấy được những quyển kinh hoặc vài ba bài báo mình cần đọc hay trả lời được những điều mình đương thắc mắc.’

Đưa mắt của người ham sách quan sát, già Thanh thấy có mấy quyển sách về linh hồn, về luân hồi, tái sinh của Feffrey Long và Paul Newton (Evidence After Life), của Michael Newton (Journey of Souls và Destiny of Souls) mấy quyển sách nói về linh hồn rất được ưa thích gần đây. Già đưa tay với lấy quyển sách nhỏ mỏng của tác giả trẻ Chung Mậu Sum 鍾茂森 của Đài Bắc, ‘Nhân Quả Luân Hồi Đích Khoa Học Chứng Minh’, hỏi:

‘Thưa, ni sư có thích đọc những quyển sách quí nầy?’

“Cũng muốn đọc lắm nhưng chưa đủ cơ duyên. Ni sang đây chưa lâu, trình độ Anh ngữ còn phải trau luyện nhiều.’

Già Thanh thích câu trả lời thiệt tình như vậy. Ở bên kia ni sư chịu ảnh hưởng một nền giáo dục khác nên cần có thời gian cho những cuốn sách loại nầy, không có gì phải dấu diếm…

2.

‘Ni ở trong chùa nầy một mình, tuần sáu ngày cô độc, chỉ Chúa Nhựt mới có độ chục tín hữu đến sinh hoạt. Quí khách thử tưởng tượng đêm vắng, không một tiếng động, chùa rộng hơn nhà thường, lại có phòng thờ các linh, nếu không đủ tinh tấn thì dễ buồn chán biết bao. Trước đây nhiều sư đến chỉ sau vài ba tháng trụ là từ giả. Có nhiều lý do, ngoài cảnh vắng vẻ còn có sự cực nhọc phải tự lo ẩm thực, giặt gỵa, tài chánh… Chùa vắng, Phật tử cúng dường không đủ chi trả cho tiền cơ sở nói gì tới tiền tiêu vặt và bảo hiểm y tế thuốc men…

Già Thanh dà dạ vuốt đuôi. ‘Nhờ ni sư nói chúng tôi mới biết được những điều đó. Cứ tưởng là đi tu không còn những chuyện phải lo lắng tầm thường như người ngoài đời.’

Vị trụ trì cười tươi:

‘Rồi mọi chuyện cũng đâu vô đó. Có Phật lo hết. Ông coi, khi ni về đây thì cửa chánh điện chưa mở ra phía trước như hiện giờ. Chưa có đường riêng cho người khuyết tật. Phòng khách nầy nguyên là căn phòng chỉ có một cửa sổ thôi. Nay thì khá hơn nhiều. Nhờ Phật lo hết.’

… ‘Sư coi vậy tu cũng còn dễ dàng, ni chúng tôi khó hơn chút đỉnh. Nhiều trường hợp bị thúc bách của gia đình hay cha mẹ, không thể từ chối được phải đội tóc giả đi làm nail.’

Ba người khách đồng loạt ồ ngạc nhiên và đổi thế ngồi.

Ni sư chầm chậm bưng chén nước đưa lên miệng:

‘Nữ phái dầu đã xuất gia, tình cảm với mẹ cha cũng còn nặng nề. Chữ hiếu khó lòng bị xóa bỏ hoàn toàn khi nhớ đến cha mẹ già yếu bịnh hoạn đương sống nghèo khổ nơi quê nhà.

Những cái gật đầu biểu đồng tình nhiều hơn của người nghe.

‘…Dầu sao tu bên nầy cũng êm ấm, đường tu hành cũng ít trắc trở. Bên kia, chùa thường bị đập phá, can thiệp, o ép. Nhiều sư trẻ không biết xuất thân từ đâu được gởi tới chùa nầy chùa kia, thét rồi sư chân chánh với sư bia, sư karaoke, sư có nợ phong lưu, sư sát thủ… chẳng thể nào phân biệt được.’

Ni sư trở giọng sau tiếng thở dài:

‘Xin lỗi khách. Kẻ xuất gia không nên để tâm mình trĩu nặng như vậy. Đáng lẽ không nên nói nhiều.’

Đưa tay lật lật một quyển tập nảy giờ để trước mặt, ni sư nói thêm:

‘Ngoài tụng niệm kinh kệ và chăm chút ngôi chùa, thời giờ rảnh rang, ni thích đọc chép những vần thơ liên quan tới việc tu hành của người xưa. Chẳng hạn bà Quỳnh Hoa Công Chúa nói khi tu hành thấy thời gian qua mau, bà mỗi lúc một lớn tuổi, không còn sự tinh anh như trước: Mắt phụng long lanh phai vẻ nước, Mày ngà lấp lánh nhạt màu xuân. Và bà Huyền Tùng Quận Chúa nói chăm chỉ việc tu hành khiến mình hiểu đạo hơn: Trông về cổ tích ngàn thu trước, Mở lá niệm kinh thấy rõ ràng.

Gió lạnh tạt vô phòng khách, kéo theo những giọt mưa hung hăng.. Già Thanh đứng dậy bước ra đóng cửa lại. Mọi người yên lặng ngó ra ngoài trời. Cơn mưa coi chừng hơi nặng hột. Người đàn bà kéo hai vạt áo lại che bớt hơi lạnh, cặp mắt vẫn đỏ.

Ni sư đưa tay lượm vài cánh bông rơi rụng trên bàn bỏ vô dĩa đựng tách trà, ngó thẳng vô mặt người khách nữ, nói như khuyên giải:

‘Tiểu bang nầy lắm mưa, nhiều khi một mình ngồi ngó mưa rơi, ni nghĩ rằng từng giọt mưa là từng linh hồn con người nghiêng mình rớt xuống để nhập làm một với Đại Ngã là sông, biển. Chết là giai đoạn hủy xác, hồn về lại nơi phát sinh. Chết sống chỉ là những giai đoạn du hành rong chơi của tiểu linh hồn.’

Người mẹ đưa mắt về phòng thờ linh bên kia, như cố tìm hình ảnh đứa con gái của mình…

3.

Trên đường về, người con phá tan sự yên lặng, rụt rè hỏi cha mình:

‘Con thấy ni sư thông tuệ. Nhưng sự so sánh sông biển với cái Đại Ngã ba thấy có đúng không?’

‘Mọi so sánh tỷ dụ đều khiến cho vấn đề trở nên dễ hiểu hơn.’ Già Thanh trả lời không suy nghĩ, ngừng một lúc hèn lâu, nuốt nước miếng, ông nói thêm:  ‘Nhưng so sánh nào cũng vậy, chỉ có giá trị tương đối. Vũng nước, ao hồ, biển cả có thể ví như cái Đại Ngã của nhân loại như ni sư đã nói theo sách, mà cũng có thể ví như hồn dân tộc, như nền văn hóa của một sắc dân, như nguồn sống của một quốc gia. Điều quan trọng là mọi giọt nước đều nghiêng mình để bơi về hợp với vùng nước lớn, cách nầy hay cách khác, trực tiếp hay gián tiếp.’

Người con rể, vốn ít mở miệng bây giờ mới lên tiếng, thiệt chí lí:

‘Kẻ nào, nhà cầm quyền nào, bao che cho bất kỳ ai làm ô nhiễm vùng nước lớn thì đều có tội tày trời, tùy theo cách nhìn, hoặc là đã làm hư hoại cái Đại Ngã của nhơn loại, hoặc là làm tàn hại nguồn sống của một dân tộc, khiến cho dân tộc tội nghiệp đó có nguy cơ bị teo cụm lần lần rồi biến mất trên quả địa cầu.’

Già Thanh gật gật đầu biểu đồng tình.

Cơn mưa chuyển sang ồ ạt, dũng mãnh kinh hồn. Những giọt nước hai bên cửa kiếng hông xe cuống quít nghiêng mình chạy mau hơn để nhập bọn với nhau. Trong trí già Thanh, những giọt nước mắt của anh ngư phủ ‘mất cá, mất biển’ ngồi khóc trên bờ biển chết cũng tương tợ như vậy. Chúng cuống quít nghiêng mình xuống cát, len lõi ra biển lớn.

Nhưng than ôi, biển lớn bây giờ đã chết vì chất độc. Giọt nước nào, dòng sông nào nghiêng mình ra biển cũng đều thất vọng.

Trong âm thanh ồn ào của tiếng mưa rơi ngoài kia, giọng ngâm nga lạc điệu của già Thanh cất lên: ‘Giọt nước nghiêng mình khóc biển Đông.’

bien-chet

Người con gái và chàng rể của già Thanh tròn xoe mắt ngác ngơ. Trên đường về từ đó cả ba người đều đắm mình trong những suy nghĩ mông lung, man mác buồn. Bên ngoài mưa vẫn nặng hột.

Charlotteville, VA, Oct. 1- 3, 2016

Nguyễn Văn Sâm

Lời tác giả:

Mọi sự trùng hợp nếu có là ngoài ý muốn của tác giả. Bốn câu thơ được trích từ quyển sách Nôm tựa là Tẩy Tâm Chơn Kinh, khắc in năm Bảo Đại Thứ Tư (1929). Mở lá: Lật sách kinh, xưa kinh viết trên lá.