Con Chim Sơn Ca và Âm Nhạc

Phạm Văn Tuấn

  1/ Truyện Trẻ Em của Hans C. Andersen.

 Lâu đài của Hoàng Đế Trung Hoa là tòa nhà rực rỡ nhất trên thế gian bởi vì bên trong có trang hoàng rất nhiều đồ gốm quý giá. Trong vườn thượng uyển của nhà vua có trồng nhiều loại hoa đẹp nhất và treo trên cành cây là các chuông bằng bạc với tiếng rung leng keng, nhắc nhở mọi người tới ngắm hoa. Khu vườn này thì quá rộng lớn đến nỗi người làm vườn không biết đâu là mức cuối cùng và tiếp theo khu vườn là cánh rừng xanh lan rộng tới tận bờ biển.

Trong cánh rừng này có một con chim Sơn Ca nhỏ hót hay đến nỗi anh chàng đánh cá nghèo khó phải dừng chân lại, lắng nghe tiếng chim hót vào ban đêm. Anh ta thốt lên: “Tiếng chim hót thật là hay biết bao!” và qua đêm hôm sau, anh chàng đánh cá quay lại khu rừng để nghe tiếng chim hót và vẫn phải cất tiếng khen ngợi “Thật là hay biết bao!”.

Các du khách trong cả nước Trung Hoa đều tới kinh đô để ngắm lâu đài và khu vườn thượng uyển, nhưng khi họ tới cánh rừng và được nghe tiếng chim Sơn Ca hót, họ đều phải nói rằng “đây là thứ hiếm quý nhất”. Các học giả Trung Hoa đã viết nhiều sách, nói về kinh đô, lâu đài và khu vườn thượng uyển, họ cũng không quên nói tới con chim Sơn Ca và con chim này được khen ngợi nhiều nhất. Vài cuốn sách nói về loại chim hiếm quý tới tay Hoàng Đế và nhà vua đã đọc sách khi ngồi trên ngai vàng. Nhà vua sửng sốt khi con chim Sơn Ca được đánh giá cao hơn tòa lâu đài vàng son, hơn khu vườn thượng uyển rực rỡ. Nhà vua đã phải thốt lên: “Tại sao có chuyện lạ vậy? Ta chưa hề biết gì về con chim Sơn Ca này”. Vị Tể Tướng được gọi đến. Hoàng Đế phán: “Mọi người nói về một thứ rực rỡ nhất trong vương quốc của ta, đây là một con chim đặc biệt nhất, gọi là chim Sơn Ca. Tại sao không ai nói cho ta biết điều này?”. Vị Tể Tướng đáp: “Tâu Bệ Hạ, hạ thần cũng chưa hề được nghe ai nói tới con chim đó! Xin để hạ thần tìm hiểu thêm”. Nhưng biết tìm con chim này ở đâu? Hỏi mọi người trong tòa lâu đài nhưng không ai được nghe nói

tới con chim Sơn Ca nên Vị Tể Tướng tâu lên nhà vua: “Bệ Hạ đừng tin những gì viết ra trong sách”. Hoàng Đế bèn đáp lại: “Nhưng cuốn sách gửi tặng ta là từ Hoàng Đế của nước Nhật Bản, vậy điều này không thể sai lầm được và ta phải được nghe tiếng hót của con chim Sơn Ca. Con chim này phải ở đây vào buổi tối nếu không, tất cả triều thần sẽ bị trị tội”.

Vị Tể Tướng cùng triều thần rất lo lắng. Họ đi hỏi thăm về con chim Sơn Ca. Cuối cùng họ gặp một cô gái nhỏ làm việc trong nhà bếp và cô bé cho biết: “Cháu biết rõ con chim Sơn Ca này. Có một lần cháu xin phép mang một chút đồ ăn còn dư cho mẹ của cháu đang bị ốm nặng và trên đường về nhà vào ban đêm, vừa mệt mỏi vừa buồn chán, cháu đã nghe thấy tiếng chim hót. Cháu quá sung sướng đến nỗi phải rơi nước mắt, tưởng rằng đang được mẹ cháu ôm hôn”.

Vị Tể Tướng nói: “Này cô phụ bếp nhỏ bé, cháu sẽ được gặp nhà vua nếu cháu dẫn ta đi tới chỗ có con chim Sơn Ca”. Rồi cả nhóm người đi vào cánh rừng, nơi con chim Sơn Ca thường hay hót. Trên đường đi, họ nghe thấy tiếng bò rống, tiếng ếch nhái kêu, nhưng cô gái phụ bếp cho biết những tiếng kêu này đâu phải là tiếng chim hót. Rồi một lúc sau, con chim Sơn Ca bắt đầu cất tiếng. Cô gái nhỏ kêu lên: “Con chim đó” và cô bé chỉ tay về hướng một con chim nhỏ màu sám đậm đang đậu trên cành cây. Vị Tể Tướng nhìn thấy con chim, bèn nói: “Có thể như vậy sao? Con chim trông tầm thường quá! Có thể nó bị rụng mất lông đẹp khi gặp gỡ nhiều nhân vật cao sang?”. Cô bé phụ bếp nói với con chim: “Chim Sơn Ca nhỏ bé ơi, Hoàng Đế muốn chim hót cho Ngài nghe!”. Con chim trả lời: “Sẵn Sàng”, và nó hót thật hay. Vị Tể Tướng cho biết: “Tiếng chim giống như tiếng chuông pha lê vậy. Con chim này sẽ thành công tại triều đình”.

Con chim Sơn Ca tưởng rằng nhà vua có mặt nơi đó, nên hỏi: “Tôi có nên hót một lần nữa cho Hoàng Đế nghe không?”. Vị Tể Tướng trả lời: “Chim Sơn Ca nhỏ bé thân mến ơi, ta rất hân hạnh được mời chim tới triều đình tối nay và Hoàng Đế sẽ rất vui mừng khi nghe tiếng hót của chim”. Chim Sơn Ca đáp lại: “Tiếng chim hót hay nhất khi trong cánh rừng xanh”, và rồi con chim cũng vui lòng bay tới tòa lâu đài.

Tại hoàng cung, mọi nơi đều được trang hoàng rực rỡ, nào là tường vách bằng sứ trắng và sàn nhà bóng loáng phản chiếu các ngọn đèn vàng. Các hoa tươi được đặt trên hành lang. Tiếng chuông reo vang khắp nơi. Tất cả triều thần đều có mặt và cô bé phụ bếp đứng bên cạnh cửa. Con chim Sơn Ca hót vang, hay đến nỗi Hoàng Đế phải xúc động và rơi lệ trên má. Vị Hoàng Đế quá hân hạnh về con chim, nên nói rằng chim đáng được đeo một chiếc vòng vàng quanh cổ. Nhưng con chim trả lời rằng nó đã được tưởng thưởng đủ nhiều: “Chim đã nhìn thấy các giọt nước trong mắt của Bệ Hạ, đây là một phần thưởng lớn cho chim này. Nước mắt của Hoàng Đế có sức mạnh biết bao”. Rồi con chim lại hót với giọng trầm bổng hay tuyệt vời. Các bà mệnh phụ đứng quanh đó đều phải nói: “Tiếng chim hót thật là hấp dẫn”.

Kể từ nay, con chim Sơn Ca ở trong triều đình. Nó có một cái lồng riêng và được phép ra khỏi lồng hai lần vào ban ngày và một lần vào ban đêm. Nó được 12 người hầu chăm sóc, mỗi người cầm một sợi dây lụa buộc quanh chân của chim. Thực ra bay lượn với dây buộc như thế này thì không thoải mái.

Một hôm, Hoàng Đế nhận được một hộp quà có ghi hàng chữ “Chim Sơn Ca”. Nhà vua nói: “Đây phải là một cuốn sách mới viết về con chim danh tiếng của ta”. Nhưng đây không phải là cuốn sách, mà là một món đồ chơi cơ khí nhỏ, một con chim Sơn Ca máy trông giống như thật, nhưng chung quanh thân chim có gắn các hột soàn, ngọc hồng và ngọc xanh. Khi lên dây thiều, con chim này có thể hót giống như một con chim thực với đuôi vẫy lên, vẫy xuống, và thân hình chim lóng lánh vàng và ngọc. Chung quanh cổ của con chim máy này có đeo một vòng bằng nhung, ghi giòng chữ: “Con chim của Hoàng Đế Nhật Bản thì không thể so sánh với con chim của Hoàng Đế Trung Hoa”. Mọi người khi nhìn thấy con chim máy này, đều phải nói “Thật là rực rỡ”.

Sau đó, vị nhạc trưởng của triều đình đề nghị: “Bây giờ hãy để hai con chim cùng hót, chúng ta sẽ được nghe một bản song ca”. Nhưng khi chúng hót với nhau, giọng của chúng không hợp nhau, bởi vì con chim Sơn Ca thật hót theo cách của nó, còn con chim Sơn Ca máy hót theo các điệu luân vũ! Rồi con chim máy được phép hót một mình. Nó đã đem lại nhiều niềm vui như con chim thật, nó lại đẹp đẽ hơn khi ngắm nhìn, nó lóng lánh như các vòng đeo tay và vòng đeo cổ. Con chim máy hót cùng một bản nhạc 33 lần mà không mệt mỏi. Mọi người muốn nghe nó hót nữa, nhưng Hoàng Đế tới lúc này nghĩ tới con chim thật, nhưng nó ở đâu? Không ai để ý rằng nó đã bay ra khỏi lồng, về cánh rừng xanh của nó! Hoàng Đế hỏi: “Chúng ta phải làm gì bây giờ?” Cả triều thần đều tức giận, cho rằng con chim Sơn Ca thật bội bạc và rồi họ nói: “Chúng ta còn có con chim hạng nhất”.

Về sau, con chim nhân tạo phải hót và mọi người phải nghe cùng một điệu hót 34 lần. Vị nhạc trưởng lên tiếng khen ngợi con chim máy hết lời, ông ta quả quyết với mọi người rằng con chim máy này hót hay hơn con chim thật, không những hơn về bộ lông đẹp và các hạt kim cương, mà cả về bên trong. “Xin Bệ Hạ, các quý ngài và các quý bà, hãy nhìn kỹ con chim thật, rồi không ai có thể nói trước được về con chim này, nhưng mọi người đều biết rõ con chim nhân tạo. Quý vị có thể cắt nghĩa về nó, mở nó ra và cho mọi người thấy rõ các bản nhạc luân vũ nằm ở đâu, chúng sẽ được trình bày như thế nào và tiếp theo nhau ra sao”. Mọi người đồng ý: “Đây cũng là những gì chúng tôi nghĩ”. Nhà vua cũng ra lệnh cho mọi người được nghe con chim máy hót, rồi viên nhạc trưởng được phép biểu diễn con chim nhân tạo cho công chúng xem vào ngày Chủ Nhật sau đó. Nhưng anh chàng đánh cá đã từng nghe con chim Sơn Ca thật hót, nói rằng: “con chim nhân tạo hót khá hay, nhưng điệu hót sai và tôi biết có một thứ gì thiếu vắng”.

Kể từ nay, con chim Sơn Ca thật bị loại ra khỏi cung đình và con chim nhân tạo được đặt trên chiếc gối lụa, đặt bên giường nằm của Hoàng Đế, tất cả các quà tặng dành cho nó, từ vàng bạc tới ngọc quý, đều được bày chung quanh và nó được tặng danh hiệu “con chim hót đêm của Hoàng Gia”. Và viên nhạc trưởng viết một tác phẩm 25 tập về con chim nhân tạo.

Một năm trường trôi qua. Hoàng Đế, tất cả triều thần và mọi thần dân đều thuộc lòng từng nốt nhạc của con chim nhân tạo. Họ cũng ưa thích hơn vì có thể hát cùng với con chim này. Tuy nhiên vào một buổi chiều, khi con chim máy đã hót bài hát hay nhất, một thứ gì đó trong mình nó bị gẫy, có tiếng kêu rắc rắc. Mọi bánh xe bên trong mắc kẹt và âm nhạc cũng ngừng lại. Hoàng Đế bật dậy, kêu gọi vị y sĩ tới. Nhưng ông này làm được gì? Rồi một người thợ đồng hồ đến và sau một thời gian dài xem xét, anh ta đã xếp theo thứ tự máy móc bên trong mình con chim và nói rằng mọi cơ phận đã bị mòn và không thể đặt vô các cơ phận mới. Đây quả là một tai họa. Con chim nhân tạo chỉ có thể hót một năm một lần và điều này cũng là quá sức rồi.

Năm năm trôi qua, rồi một tin buồn tới với quốc gia này. Người Trung Hoa trông đợi mọi thứ vào vị Hoàng Đế mà giờ đây, nhà vua này đang đau bệnh, có thể không sống nổi. Một vị vua mới được chọn ra. Người ta hỏi vị Tể Tướng về nhà vua già và viên quan đầu triều chỉ lắc đầu, không nói. Vị vua già vừa xanh xao, vừa run rẩy, nằm trong chiếc giường rực rỡ. Cả triều đình tin rằng ông đã băng hà nên từng người xa cách ông để tôn kính vị Hoàng Đế mới. Trên các lối đi tại mọi nơi trong hoàng cung, thảm quý được trải ra để không ai nghe thấy tiếng bước chân. Tất cả là cảnh yên lặng. Vị Hoàng Đế già trông đợi một thứ gì mới xẩy đến, để phá tan sự yên tĩnh giống như cảnh chết chóc này. Nếu có một người nào đó tới nói chuyện cho nhà vua nghe nhỉ? Nhà vua nói lớn với con chim máy: “Âm Nhạc! Âm Nhạc! Con chim nhỏ bé rực rỡ bằng vàng ơi, ta đã ban cho mi vàng bạc và ngọc quý, chính tay ta đã treo vòng vàng chung quanh cổ của mi, hãy hót lên, hót đi!”. Nhưng con chim máy vẫn im lặng. Không có ai lên dây thiều cho con chim, vì thế nó không thể hót được. Tất cả là cảnh yên lặng, lặng thinh đến khủng khiếp!

Nhưng ngay lập tức tại nơi cửa sổ vang lên tiếng chim hót tuyệt vời nhất! Đậu trên cành cây bên ngoài, con chim Sơn Ca thật nhỏ bé đã nghe thấy lời cầu mong của vị Hoàng Đế già nên đã tới để hót cho nhà vua được yên lòng và hy vọng. Và càng nghe chim hót, giòng máu trong huyết quản của nhà vua càng chạy nhanh hơn, cuộc sống bắt đầu trở lại. Vị vua già nói với con chim: “Cảm ơn, ồ, cảm ơn con chim tuyệt vời. Ta biết mi. Ta đã đuổi mi ra khỏi vương quốc của ta nhưng mi đã mang lại cho ta đời sống. Làm sao ta có thể tưởng thưởng mi được?”. Con chim Sơn Ca trả lời: “Bệ Hạ đã tưởng thưởng cho chim rồi. Lần đầu tiên khi tôi hót, các giọt nước mắt đã lăn trên má của Bệ Hạ. Đó là các viên ngọc quý làm vui lòng trái tim của ca sĩ! Bây giờ Bệ Hạ nên ngủ đi để lấy lại sức khỏe”. Và nhà vua chìm trong giấc ngủ sâu, yên lành, trong khi con chim Sơn Ca hót vang.

Khi mặt trời chiếu sáng qua khung cửa sổ, vị Hoàng Đế già tỉnh dậy, cảm thấy mạnh khỏe, phục hồi. Không một người hầu nào tới thăm nhà vua cả bởi vì họ tưởng nhà vua đã chết. Nhưng con chim Sơn Ca đã đến và hót các giọng trầm bổng cho nhà vua nghe. Vị Hoàng Đế già nói với con chim: “Mi phải luôn luôn sống gần ta nhé! Mi hãy hót lên khi nào vui thích rồi ta sẽ đập vỡ con chim nhân tạo ra làm trăm mảnh”. Con chim thật trả lời: “Xin Bệ Hạ đừng làm thế. Con chim đó làm công việc của nó bao lâu tùy theo khả năng của nó. Tôi không thể xây tổ trong cung điện và sống nơi hoàng cung, xin hãy cho phép tôi tới đây khi nào tôi ưa thích. Vào mỗi buổi tối, tôi sẽ đậu trên cành cây bên ngoài cửa sổ và tôi sẽ hót các bài ca làm cho Bệ Hạ cảm thấy Hạnh Phúc. Tôi sẽ hót các bản nhạc vui và các bản nhạc buồn, tôi cũng hót lên những gì tốt và xấu mà Bệ Hạ không biết tới. Con chim nhỏ này sẽ bay vòng quanh, tới túp lều của anh chàng đánh cá nghèo nàn, tới căn nhà lá của người nông dân, tới những người sống xa Bệ Hạ và triều đình. Tôi yêu thương Tấm Lòng của Bệ Hạ hơn là Ngai Vàng của Ngài. Bây giờ tôi hót cho Bệ Hạ nghe một lần nữa nhưng Bệ Hạ phải hứa với tôi một điều – “.

Vị Hoàng Đế đứng dậy, mặc vào chiếc long bào và trả lời con chim: “Bất cứ điều gì”. Con chim nói: “Tôi chỉ xin Bệ Hạ một điều. Xin đừng nói với ai là Bệ Hạ đã có một con chim nhỏ bé kể lại cho Bệ Hạ nghe mọi sự việc. Tốt hơn là không nói ra”. Rồi con chim Sơn Ca bay đi. Khi các người hầu cận tới nơi, coi xem vị vua già đã băng hà chưa, thì nhà vua nói với họ: “Chào Buổi Sáng”./.

Hans Christian Andersen

(Truyện “The Nightingale” trong cuốn The Children’s Treasure, biên tập do Alice Mills, nhà xuất bản Global Book Publishing Pty, Ltd., Australia).

 2/ Nhà Văn Hans Christian Andersen.

Loại truyện trẻ em bao gồm những chuyện thần tiên, chuyện nhân gian, thường hàm chứa các đức tính tốt, các sự việc cao đẹp, mô tả các đời sống đơn giản hơn thông thường, với các điều lành và điều dữ dễ dàng nhận rõ. Loại truyện này cũng liên quan tới các con vật biết nói, với phần kết có những người tốt, người thiện được tưởng thưởng và các kẻ xấu, kẻ gian bị trừng phạt. Trong cốt truyện cũng kể tới các cuộc đi xa, các biến động, nhiều vấn đề rắc rối… nhưng cuối cùng, đời sống tiếp tục tươi sáng với tương lai nhiều hứa hẹn.

Có nhiều truyện trẻ em danh tiếng được nhiều người biết tới, chẳng hạn như chuyện Bạch Tuyết, Cô Bé Lọ Lem, Nàng Công Chúa Ngủ Trong Rừng… Các nhà văn viết truyện trẻ em lừng danh như Charles Perrault người Pháp, anh em Grimm người Đức, đã tạo nên những câu chuyện rất phổ thông, gây ảnh hưởng tới nền văn chương của phương Tây. Một bậc thầy khác về nghệ thuật viết truyện thần tiên hay truyện trẻ em là nhà văn Hans Christian Andersen. Các truyện của Andersen có nguồn gốc từ các truyền thuyết nhân gian, lại hàm chứa bên trong thể văn cá nhân và các yếu tố tự thuật hay tính châm biếm xã hội đương thời.

Hans Christian Andersen (1805–1875) là nhà văn danh tiếng nhất của nước Đan Mạch. Các truyện của ông được phổ biến rộng rãi trong nền văn chương thế giới bởi vì các tác phẩm này đã làm cho giới độc giả trẻ tuổi tin tưởng và say mê qua nhiều thế hệ. Andersen sinh ra đời tại Odense, Đan Mạch, là con trai của một người thợ đóng giầy nghèo khó, qua đời lúc cậu mới 11 tuổi. Vào thuở thiếu thời, cậu bé này đã phải sống trong khu nhà tồi tàn, phải tranh đấu để vươn lên trong một xã hội có nhiều giai cấp gò bó. Sau khi theo học tại một ngôi trường dành cho các trẻ em nghèo, Andersen rời bỏ Odense vào tuổi 14 để theo nghề nghệ sĩ tại thủ đô Copenhagen. Mặc dù cố gắng kiếm ăn bằng các công việc như kịch sĩ, ca sĩ, diễn viên múa, Andersen vẫn nằm trong cảnh túng thiếu. Tại Copenhagen, Andersen được ông Jonas Collin, một trong các giám đốc của Rạp Hát Hoàng Gia giúp đỡ và ông này trở thành người bạn thâm niên.

Nhờ ông Jonas Collin, Andersen nhận được một học bổng để theo đại học Copenhagen vào năm 1828. Năm sau, Andersen viết ra vở kịch đầu tiên, có tên là “Tình Yêu trong Tháp của Nhà Thờ Thánh Nicolai” (Love in St. Nicolai Church Tower). Andersen cũng viết các tiểu thuyết và các vở kịch nhưng các sáng tác này ít khi được đọc bên ngoài miền đất Scandinavia. Cuốn tiểu thuyết danh tiếng nhất của ông là “Ứng Tác” (Improvisation, 1835).

 Hans Christian Andersen

Vào năm 1835, Hans Christian Andersen cho xuất bản tập truyện thần tiên đầu tiên và ông tiếp tục viết tới tập thứ 156 trước khi qua đời. Tập thứ nhất gồm các câu chuyện như “Chiếc Hộp dễ cháy” (The Tinder Box), “Claus nhỏ và Claus lớn” (Little Claus and Big Claus), “Nàng Công Chúa và Hạt Đậu” (The Princess and the Pea), “Các Bông Hoa của Bé Ida” (Little Ida’s Flowers)… Các truyện của Andersen trở nên phổ biến vào đầu thập niên 1840.

Các tác phẩm của Hans Christian Andersen đã mở ra một đường hướng mới về nội dung và thể văn bởi vì ông là một nhà cải cách thực sự trong phương pháp kể chuyện. Các câu chuyện của ông hấp dẫn trẻ em lẫn người lớn do tác giả đã đưa vào trong truyện các cảm xúc và ý tưởng ngoài tầm hiểu biết tức thời của trẻ em, trong khi những yếu tố này vẫn còn nằm trong tầm nhìn của lớp thiếu niên. Andersen đã khéo léo phối hợp khả năng kể chuyện tự nhiên và trí tưởng tượng dồi dào, đã dùng các đặc tính phổ thông trong các truyền thuyết nhân gian để sáng tạo ra những câu chuyện liên quan tới nhiều nền văn hóa.

Do là một nhà văn danh tiếng, Hans Christian Andersen đã quen với nhiều nhân vật trong hoàng gia Đan Mạch, thân với các nghệ sĩ lừng danh như nhạc sĩ Franz Liszt, nhà thơ Heinrich Heine, các tiểu thuyết gia như Victor Hugo và Charles Dickens. Ông Andersen cũng từng du lịch khắp châu Âu và viết ra nhiều cuốn sách liên quan đến các kinh nghiệm của ông, trong số này đáng kể nhất là cuốn “Tạp Ghi của Nhà Thơ” (A Poet’s Bazaar, 1842) và “Tại Thụy Điển” (In Sweden, 1851). Một cuốn sách tự thuật khác của ông là cuốn “Chuyện Thần Tiên của Đời Tôi” (The Fairy Tale of My Life, 1855).

Hans Christian Andersen là một nhân vật thành công và danh tiếng do các tác phẩm nhưng ông không lập gia đình. Ông đã từng yêu ba phụ nữ trong đó có nữ ca sĩ người Thụy Điển Jenny Lind và cô ái nữ của ông Jonas Collin, nhưng không người đẹp nào đáp lại tình yêu của ông.

 3/ Tiếng chim hót trong bản nhạc của Vivaldi.

Trong truyện trẻ em kể trên của Hans Christian Anderson, nhân vật quan trọng thứ hai là con chim Sơn Ca. Con chim này đã hót nhiều giọng vui, buồn, trầm, bổng, với cung điệu rất hấp dẫn, truyền cảm, đã mang lại xúc động cho nhiều người nghe, từ anh chàng đánh cá nghèo khó, cô gái nhỏ phụ bếp tới Hoàng Đế Trung Hoa. Con chim Sơn Ca có khả năng mang lại sức khỏe cho nhà vua, đã khiến cho vị vua già không còn cô đơn. Nhà vua đã vui lên, tin tưởng hơn nhờ thứ âm nhạc của cánh rừng xanh mà con chim Sơn Ca là một ca sĩ trình diễn.

Như vậy Âm Nhạc là gì, có các công dụng nào và các thể loại nào? Âm nhạc là các âm thanh được xếp đặt theo các mẫu (patterns) êm tai và hấp dẫn. Mọi người dùng âm nhạc để diễn tả các cảm xúc và tư tưởng. Âm nhạc cũng được dùng để giải trí và thư dãn tâm hồn, vì vậy âm nhạc là một phần quan trọng trong đời sống hàng ngày, trong nhiều hoạt động xã hội và văn hóa.

Âm nhạc là một nghệ thuật trình diễn. Khác với vài bộ môn nghệ thuật như Thơ Phú và Hội Họa trong đó người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm rồi phổ biến hay trưng bày cho mọi người nghe hoặc thưởng lãm; trong bộ môn âm nhạc, nhạc sĩ sáng tác cần tới nhiều ca sĩ trình diễn để diễn tả các bài ca, các nhạc phẩm, giống như nhà soạn kịch cần tới các diễn viên trên sân khấu. Như vậy công việc trình tấu âm nhạc là sự phối hợp giữa các nghệ sĩ sáng tác và các nghệ sĩ biểu diễn.

Âm nhạc là một trong các nghệ thuật lâu đời nhất và có lẽ con người bắt đầu biết ca hát khi ngôn ngữ mới phát triển. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy các khúc xương rỗng được dùng làm cây sáo (flute) vào khoảng 10,000 năm trước Tây Lịch (TL) và bản nhạc đầu tiên được viết ra có lẽ từ 2,500 năm trước TL. Các dân tộc với nền văn minh cổ như các người Ai Cập, Trung Hoa và Babylonians đã biết dùng âm nhạc trong các lễ nghi cung đình và tôn giáo.

Âm nhạc giữ các vai trò quan trọng trong mọi nền văn hóa. Nhiều người dùng âm nhạc trong các buổi lễ hội, trong công việc làm hay trong các sinh hoạt cá nhân và tập thể. Ngày nay, âm nhạc có nhiều hình thức. Loại âm nhạc của châu Âu và châu Mỹ được gọi chung là Âm Nhạc Tây Phương (Western music) trong khi châu Phi và châu Á cũng có loại âm nhạc riêng. Trong nền âm nhạc Tây Phương, có hai loại chính là “cổ điển” (classical) và “phổ thông” (popular). Nhạc Cổ Điển gồm các bản giao hưởng (symphonies), nhạc kịch (operas) và nhạc vũ ba lê (ballets). Nhạc Phổ Thông có các loại chính như nhạc đồng quê (country music), nhạc nhân gian (folk music), nhạc jazz và nhạc rock…

Trong bộ môn nhạc cổ điển cũng có nhiều hình thức. Nhiều bản nhạc cổ điển rất dài với nhạc phong và nhịp độ biến đổi. Cũng có các bản nhạc ngắn với cùng nhịp độ và nhạc phong được giữ nguyên trong suốt thời gian trình tấu. Vài bản nhạc cổ điển mang chủ đích trình bày một đề tài, diễn tả một ý tưởng, mô tả một cảm xúc hay kể ra một câu chuyện.

Các nhà nghiên cứu âm nhạc cũng chia nhạc cổ điển ra làm hai loại: nhạc dùng đàn (instrumental music) và thanh nhạc (vocal music). Nhạc dùng đàn thường được trình tấu bằng một nhạc cụ, một nhóm nhỏ nhạc cụ hay một dàn nhạc (orchestra), còn thanh nhạc được viết cho một ca sĩ hát, hay một nhóm ca sĩ, hoặc một ban hợp ca đông người. Ngày nay các nhạc cụ được chia làm 5 loại chính: (1) nhạc cụ dây (stringed), (2) nhạc cụ gió (wind), (3) nhạc cụ gõ (percussion), (4) nhạc cụ phím (keyboard) và (5) nhạc cụ điện tử (electronic instruments).

Tùy theo số nhạc sĩ trình diễn mà bản nhạc được phân loại ra làm:

(1) nhạc độc tấu (solo music): được viết cho một thứ đàn như dương cầm, vĩ cầm, sáo… Các bản sonata dương cầm danh tiếng nhất là của các nhạc sĩ Ludwig van Beethoven người Đức, Wolfgang Amadeus Mozart người Áo… trong khi Johann Sebastian Bach người Đức cũng sáng tác các sonata xuất sắc, dùng cho đàn vĩ cầm (violin) và hồ cầm (cello).

(2) nhạc thính phòng (chamber music): dùng cho từ 2 tới 5 nhạc sĩ, với mỗi người trình bày mỗi phần khác nhau. Loại bản nhạc này gồm loại hòa tấu 3 đàn dây (string trio), hòa tấu dương cầm 3 đàn (piano trio), hòa tấu 4 đàn (string quartet), hòa tấu 5 đàn (string quintet)…

(3) nhạc đại hòa tấu (orchestra music): được trình diễn trước khán giả đông người. Dàn nhạc của loại này gồm từ 15 tới trên 100 nhạc sĩ, được chia làm 4 nhóm chính: a) loại dây, b) loại gió, c) loại kèn đồng và d) loại gõ. Loại bản nhạc thường được các dàn nhạc đại hòa tấu trình diễn gồm các bản giao hưởng (symphonies), các concerto và các tổ khúc (suites).

Bản nhạc giao hưởng thường diễn tả các cảm xúc, các ý tưởng. Bản giao hưởng “Eroica” (1804) của Beethoven lúc đầu có chủ đích ca ngợi danh tướng Napoleon với nhiều đoạn nhạc hùng tráng, và phần hai (2nd movement) là hành khúc tang lễ (funeral march) dành cho bậc anh hùng quá vãng… Bản giao hưởng “Mùa Xuân” (Spring, 1841) của Robert Schumann diễn tả niềm hạnh phúc khi lập gia đình.

Các bản concerto được viết ra cho một thứ đàn riêng biệt, chẳng hạn như đàn vĩ cầm hoặc đàn dương cầm. Nhà soạn nhạc danh tiếng người Ý Antonio Vivaldi đã viết ra nhiều concerto xuất sắc, chủ yếu dùng cho các loại đàn dây.

Từ thế kỷ 18, các tổ khúc (suites) là loại nhạc dành cho vũ điệu (dances), chẳng hạn như hai tổ khúc danh tiếng “Peer Gynt Suite” (1876) của nhà soạn nhạc Edvard Grieg người Na Uy, và “Nutcracker Suite” (1892) của nhà soạn nhạc Peter Ilich Tchaikovsky người Nga.

Âm nhạc là một loại ngôn ngữ quốc tế có sức mạnh truyền thông lớn nhất, đã dùng tới các giai điệu trầm bổng để gợi lên trong tâm hồn người nghe nhiều cảm xúc nội tâm đa dạng. Âm nhạc trực tiếp ảnh hưởng tới các giác quan của thính giả và các nhạc sĩ sáng tác là những nghệ sĩ dùng âm thanh để mô tả những gì không thể nói ra bằng lời, vui cũng như buồn, say mê cũng như hùng tráng…

Trở về một thí dụ đơn giản là tập Concerto “Bốn Mùa” (The Four Seasons) của Antonio Vivaldi, phổ biến vào năm 1725. Mở đầu trong concerto thứ nhất “Mùa Xuân” là tiếng chim hót vui vẻ, chào đón một mùa nắng ấm, sau đó là tiếng nước chảy róc rách của một giòng suối với gió nhẹ thổi qua, với các tiếng sấm, và rồi lại nghe thấy tiếng chim hót diễn tả nhờ cây vĩ cầm độc tấu.

Mùa Xuân đang tới. Nhạc và Thơ là hai bộ môn nghệ thuật chuyên chở rất nhiều tình cảm. Nếu Antonio Vivaldi sáng tác ra các giòng nhạc bắt chước tiếng chim, giống như giọng hót của con chim Sơn Ca, thì Đại Thi Hào Nguyễn Du cũng mô tả tiếng đàn lả lướt của nàng Thúy Kiều bằng bốn câu thơ sau:

Trong như tiếng hạc bay qua,

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời,

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa…

 

Phạm Văn Tuấn.

 

Nguyễn Trãi với lẽ xuất xử

Phạm Doanh

Nguyễn công Trứ sau này mới nói rõ: “xưa nay xuất xử thường hai lối “. Nhưng trước đó Nguyễn Trãi chắc chắn đã từng biết rõ hơn ai hết , khi người cha của mình là Nguyễn phi Khanh đã viết trong “Thanh hư động kí 清虛洞記”: vào ngày giáp tí, tháng chạp, năm Xương-phù thứ tám (1384), tại làng Nhị-khê :
Hiền đạt giả chi xuất xử, kỳ động giả dĩ thiên, kỳ lạc dã dĩ thiên. 賢達者之出處,其動也以天,其樂也以天 (Trong việc “xuất”, “xử” của kẻ hiền đạt, thì “xuất” là để hành động theo lẽ trời, “xử” là để tìm thú yên vui, cũng theo lẽ trời.) và rồi trong đoạn kết :
“ Nhược phù đại thần nhất thân tiến thoái hệ quốc khinh trọng, tắc quân tử cố hữu chung thân chi ưu, phi nhược bỉ phu chi sự quân giả, ký hoạn đắc hựu hoạn thất, kỳ đắc dã, thụ du hiến nịnh, vô sở bất vi; kỳ thất dã, phất nhiên viễn khứ, tâm hoài ương ương. Thử ô túc trí xỉ ư hiền đạt xuất xử chi luận da? 若夫大 臣一身進退繫國輕重,則君子固有終身之懮,非若鄙夫之事君者,既患得又患失,其得也,售諛獻佞,無所不為;其失也,艴然遠去,心懷怏怏。此烏足置齒於賢達出處之論耶 ( Ôi! Thân phận một kẻ đại thần, khi tiến, khi lui, đều có quan hệ với vận mệnh của nước nhà, cho nên người quân tử vẫn ôm mối lo suốt đời, nào phải như kẻ bỉ phu thờ vua, đã lo được lại lo mất, khi được thì a dua, nịnh hót, chẳng việc gì là chẳng làm; khi mất thì hất hủi bỏ đi, trong lòng hậm hực. Như vậy, sao đáng cùng họ mà bàn việc “xuất” và “xử” của người hiền đạt được?)
(Theo TRẦN LÊ SÁNG, trong Thơ văn Lý Trần, Tập 3, nhà Xuất bản Khoa Học Xã hội, Hà nội, 1977, pp 494 et suiv.)

Vậy Nguyễn Trãi đã Xử như thế nào và Xuất ra sao? Qua thơ văn và hành trạng đời ông, ông đã chứng tỏ đã hoà hợp hai ngả : khi xử có xuất và khi xuất có xử. Ông đã thực hành các phương châm :
A. Thân cư sơn lâm, tâm tại ngự khuyết. [* Miếu đường 廟堂 : thời xưa, cửa bên ngoài cung. Trang Chu 莊周 trong Nam Hoa Kinh 南華經 thiên Ngoại thiên 外篇, chương Tại hựu 在宥 : “ Cố hiền giả phục xử đại sơn khàm nham chi hạ, nhi vạn thặng chi quân ưu lật hồ miếu đường chi thượng 故賢者伏處 大山嵁岩之下, 而萬乘之君憂慄 乎廟堂之上 (Cho nên người hiền thì ẩn cư trên núi cao hang sâu, mà các vua nước lớn thì ngồi trong cung mà lo lắng, sợ sệt. ) “. Theo Hoài nam tử 淮南子, chương Chủ thuật huấn 主術訓 : “ Quân nhân giả, bất hạ miếu đường chi thượng nhi tri tứ hải chi ngoại giả, nhân vật dĩ thức vật, nhân nhân dĩ tri nhân dã 君人者, 不下廟堂 之上而 知四海之外者, 因物以識物, 因人以知人也 (Kẻ làm vua, không bước xuống hỏi thềm cúa cung mà biết được các việc sảy ra trong bốn bể, đó là qua vật mà hiểu vật, nhân người để môn thường có hai lầu cao hai bên. Bên dưới là nơi niêm yết thông báo của nhà nước . Cũng mượn dùng chỉ triều đình. Miếu đường tâm sự tích lâm khâu. 廟堂心事蹟林丘 : nỗi lòng lo việc nhà nước mà dấu chân in nơi núi rừng. Tử Mâu 子牟, người thời Chiến quốc 戰國, nhân vì được phong đất Trung-sơn 中山, nên còn được gọi là Trung-sơn công tử Mưu 中山公子牟 hay Ngụy công tử Mâu 魏公子牟 cũng có câu nói tương tự : “ Thân tại giang hải chi thượng, tâm cư hồ ngụy khuyết chi hạ 身在江海之上, 心居乎 魏 闕之下 (Thân sống trên sông biển, mà lòng gửi nơi triều đình ) “. Sau này câu nói dùng ám chỉ lòng trung quân ái quốc. Tham khảo Lữ thị Xuân Thu 呂氏春秋, chương Thẩm vi 審為. *] mà biết người vậy ) “. Phạm trọng Yêm 范仲淹 , 989 – 1052, nhà văn thời Bắc Tống 北 宋 trong Nhạc-dương lâu kí 岳陽樓記 : “ Bất dĩ vật hỉ, bất dĩ kỉ bi , cư miếu đường chi cao, tắc ưu kì dân ; xử giang hồ chi viễn, tắc ưu kì quân 不以物 喜, 不以己悲, 居廟堂 之高, 則憂其民; 處江湖之遠, 則憂其君 ( Không lấy cái ngoại vật làm vui, không lấy cái nội tâm làm buồn. Khi giữ chức vụ cao trong chính quyền thì lo cho dân, khi tuy không ở trong chính quyền nhưng vẫn lo cho nước.

B. Tiên ưu hậu lạc. Cũng trong Nhạc-dương lâu kí 岳陽樓記 : “.Thị tiến diệc ưu, thối diệc ưu ; nhiên tắc hà thì nhi nhạc da ? Kì tất viết : “ tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc dư ! . 是進亦憂, 退亦憂; 然 則何時而樂 耶?其 必曰: “先天下之憂而憂, 後天下之樂 而樂歟!” ( Như thế ở trong cũng lo mà ở ngoài cũng lo, Thế thì thấy vui vào lúc nào? Ắt đáp : “ Lo trước cái lo của thiên hạ, Vui sau cái vui của thiên hạ “ sao? ) “ *],

C. Đạm bạc, Ninh tĩnh luôn luôn tinh tiến
Hoài-nam tiểu sơn 淮南小山, bút hiệu tập thể cúa các tân khách trong nhà Hoài-nam vương Lưu An 淮南王 劉安, trong sách Hoài nam tử 淮南子, chương Chủ thuật huấn 主術訓 : “ Thị cố phi đạm bạc vô dĩ minh đức, phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn, phi khoan đại vô dĩ kiêm phúc, phi từ hậu vô dĩ hoài chúng , phi bình chánh vô dĩ chế đoạn 是故非澹薄無以明德 , 非寧靜無 以致遠, 非寬大無以兼覆, 非慈厚無以懷眾, 非平正無以制斷 (Chính vì vậy cho nên thiếu đạm bạc thì không làm rõ cái đức của mình, không trầm tĩnh thì khó suy nghĩ sâu xa, thiếu độ lượng thì lấy gì mà đối xử với nghịch cảnh, không nhân hậu thì thương người sao được, không công bình ngay thẳng thì lấy gì để mà đoán quyết) “ *]. Gia cát Lượng 諸葛亮 tự Khổng Minh 孔明, 181 – 234, nhà quân sự nước Thục 蜀, thời Tam quốc 三國, trong Giới tử 誡子 : “ Phi đạm bạc vô dĩ minh chí , Phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn . Phù học tu tĩnh dã 非澹泊無以明志, 非寧靜無以致遠. 夫學須靜也 ( Không giản dị, thì không làm rõ chí mình, Không suy nghĩ kĩ thì không thể tiến xa. Phải học tính điềm đạm ) “ *]

Chúng ta hãy phân tích qua thi ca và thân thế ông.
[* Về tiểu sử, chúng tôi đã dựa vào chương Tiểu sử Nguyễn Trãi trong Văn Tân et als (Eds) : Nguyễn Trãi Toàn Tập , Nhà xuất bản Khoa-học Xã-hội, Ha-nội – 1969, từ trang 9 – 20 *]

Hành trình của chàng thanh niên yêu nước.

Ngày 28 tháng 2 năm canh thìn (1400), Hồ quí Li chiếm ngôi của nhà Trần, đặt tên nước là Đại-ngu, Nguyễn ứng Long đểi tên là Nguyẫn phi Khanh và ra nhận chức ̣ái lí tử khanh thị lang toà trung thơ, hàn-lâm viện học sĩ kiêm lĩnh chức tư-nghiệp Quốc tử giám. Cũng trong năm này Nhà Hồ mở khoa thi đầu tiên. Nguyễn Trãi ứng thí, ông trúng tuyển thái học sinh. Sau khi thi đỗ, ông được Hồ Quý Ly trao cho chức Ngự sử đài chánh chưởng. Thế là hai cha con cùng làm quan ở triều đình và cùng giúp cho Hồ Quý Ly thi hành cải cách về kinh tế, chính trị và văn hóa nhằm đưa xã hội Việt Nam sang một giai đoạn phát triển hơn.
Hồ Quý Ly đang thi hành các cải cách thì quân Minh do Trương Phụ chỉ huy mở một cuộc xâm lược vào nước Đại Ngu, Hồ Quý Ly cùng con là Hồ Nguyên Trừng mang quân ra chống cự. Quân Hồ bị quân Minh đánh bại. Cha con Hồ Quý Ly và các triều thần bị bắt và đưa về Trung Quốc. Trong số triều thần bị bắt có Nguyễn Phi Khanh.
Được tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng đến chỗ quân Minh giam giữ tù binh để tìm cha, rồi hai anh em theo đoàn xe lên ải Nam Quan với ý định biên giới để hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù.
Nguyễn Phi Khanh biết rằng ông đi chuyến này là sẽ không bao giờ trở về Tổ quốc nữa, cho nên nhân một lúc vắng vẻ, ông bảo Nguyễn Trãi rằng: “Con là người có học, có tài nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?”. Rồi Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi quay trở về, chỉ để Phi Hùng theo ông sang Trung Quốc, để khi ông chết thì đem hài cốt về nước…
Nguyễn Trãi gạt nước mắt từ biệt cha và em rồi quay trở lại đi tìm con đường “rửa nhục cho nước, trả thù cho cha”, đúng như lời giáo huấn cuối cùng của Nguyễn Phi Khanh.

1. Trước khi tham gia kháng chiến chống Minh.

• Về đến thành Đông Quan, Nguyễn Trãi bị quân Minh bắt. Tướng giặc là Trương Phụ biết Nguyễn Trãi là một nhân vật có tài cao chí cả, y cố dụ dỗ ông ra làm quan với quân Minh. Nguyễn Trãi kiên quyết từ chối. Tức giận, Trương Phụ định đem ông ra chém. Thượng thư Hoàng Phúc khôn khéo hơn, biết rằng muốn dụ dỗ một người như Nguyễn Trãi thì một ngày không thể làm được. Y can Trương Phụ rồi tha cho Nguyễn Trãi, nhưng y buộc ông phải sống ở thành Đông Quan là nơi có đại bản doanh của quân xâm lược.
• Hiện nay chưa đủ tài liệu để khẳng định dứt khoát rằng trong khoảng thời gian từ 1407 đến năm 1416, Nguyễn Trãi ở Đông Quan hay đi đâu. Trong thơ chữ Hán của ông có nhiều chỗ nói ông đã sống mười năm luân lạc hay mười năm phiêu chuyển lênh đênh ở nơi góc biển chân trời xa quê hương. Trong những bài thơ chữ Hán ấy, có nhiều bài nói ông sang Trung Quốc nữa. Do đó, có người đã đoán rằng Nguyễn Trãi đã đi sang Trung Quốc. Thuyết này hiện nay chưa biết là đúng hay sai. Chỉ biết rằng Nguyễn Trãi đã sống ở Đông Quan, nhưng có lẽ ông chỉ sống ở đấy trong một thời gian nào đó mà thôi.
• Vào khoảng năm 1416 hoặc khoảng năm 1420, Nguyễn Trãi đến Lỗi Giang trao cho Lê Lợi, thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn, bản Bình Ngô sách, trong đó ông vạch ra chiến lược, chiến thuật đánh quân Minh. Theo bài tựa của Ngô Thế Vinh trong Ức Trai thi tập thì Bình Ngô sách “hiến mưu chước lớn, không nói đến việc đánh thành mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người, cuối cùng nhân dân và đất nước của mười năm lãnh đạo nước ta đều đem về cho ta cả”.
• Nghe lời cha dặn, về nước tìm cơ hội : Nguyễn Trãi không có tên trong bản Hội thề Lũng Nha, và khi được tin Lê Lợi khởi nghĩa, ông đã tham gia hết mình.
Về thơ văn, trong giai đoạn này ông từng than thở như trong bài

Loạn hậu cảm tác.
亂 後 感 作

Thần-châu nhất tự khởi can qua,
神州一自起干戈
Vạn tánh ngao ngao khả nại hà ?
萬姓嗷嗷可奈何
Tử Mĩ cô trung Đường nhật nguyệt,
子美孤忠唐日月
Bá Nhân song lệ Tấn sơn hà.
伯仁雙淚晉山河
Niên lai biến cố xâm nhân lão,
年來變故侵人老
Thu việt tha hương cảm khách đa.
秋越他鄉感客多
Táp tải hư danh an dụng xứ,
卅載虛名安用處
Hồi đầu vạn sự phó Nam-kha.
回頭萬書付南柯
Giải xuôi : Viết ra sau hồi loạn.
Đất nước yêu quí [* thần-châu 神州 nói gọn của thần-châu lục trầm 神州陸沉 , tương tự với cụm quốc thổ luân hãm 國土淪陷 : đất nước bị ngoại xâm, chỉ cuộc xâm lăng Việt Nam của quân Minh . Lưu nghĩa Khánh 劉義慶, 403 – 444, nhà văn nước Tống 宋 thời Nam Bắc triều 南北朝, trong Thế thuyết tân ngữ 世說新語, chương Khinh để 輕詆: “ Hoàn công nhập Lạc, quá Hoài, Tứ, tiễn bắc cảnh, dữ chư liêu chúc đăng Bình-thừa lâu, thiếu chúc trung nguyên, khái nhiên viết: “ Toại sử thần châu lục trầm, bách niên khâu khư, Vương di Phủ chư nhân, bất đắc bất nhâm kì trách. 桓公入洛,過淮, 泗, 踐北境, 與諸僚屬登平乘樓, 眺矚中原, 慨然曰: “ 遂使神州陸沈, 百年丘墟,王夷甫諸人,不 得 不任其責!( Hoàn công tiến vào vùng Lạc, qua sông Hoài, sông Tứ, đặt chân lên vùng phía bắc, cùng các ban tham mưu lên lầu Bình-thừa, nhòm xuống vùng trung nguyên , cảm khái mà nói rằng : “ Cứ để cho nước bị giặc ngoai xâm, cả đời tàn hại, bè lũ Vương di Phủ ( Vương Diễn 王衍 ), không thể không gánh vác nhiệm vụ ) “. Có khi dùng chỉ vùng đất trung nguyên một nước . Lưu nghĩa Khánh 劉義慶 , trong chương Ngôn ngữ 言语: “ Vương thừa tướng thiểu nhiên biến sắc viết :‘ đương cộng lục lực vương thất, khắc phục thần châu, hà chí tác Sở tù tương đối khấp da!王丞相 愀然變色曰: ”當共戮力王室, 剋復神州, 何至作 楚囚相 對泣邪!( Vương thừa tướng 王丞相 ( Vương Đạo 王導 ) biến sắc mặt, quát lên : “Đang cùng cố sức giúp nhà vua, khôi phục đất nước, sao lại biến thành kẻ tù vùng Sở này mà khóc lóc. ) “. Trương nguyên Can 張元干, 1109―1170 nhà văn thời Bắc Tống 北 宋 , trong bài Hạ tân lang : tống Hồ bang Hành đãi chế phó Tân-châu 賀新郎·送胡邦衡待製赴 新州 : “ Mộng nhiễu thần châu lộ, trướng thu phong, liên doanh họa giác, cố cung li thử 夢繞神 州路, 悵秋風, 連營畫角, 故宮離黍 ( Mộng vượt đường cái quan, gió thu nổi, doanh trại tù và, cung xưa hoang phế ) “ *] từ khi trải qua cuộc loạn lạc; muôn dân ai oán biết làm sao được. Tử Mĩ [* hiệu của Đỗ Phủ, 712 – 770, nhà thơ lớn của Trung Quốc, gặp loạn An Lộc Sơn 安祿山, đã phải sống lang bạt. Trong bài Trung dạ 中夜, ông viết : “ Cố quốc phong vân khí, Cao đường chiến phạt trần. Hồ sồ phụ ân trạch, Ta nhữ thái bình nhân. 故國風雲氣, 高堂戰伐塵. 胡雛負恩 澤,嗟爾太平人 ( Quê cũ gió mây khuất, Bụi trận bám nhà cao. Nhãi Hồ phủi ân huệ, Dân lành khổ biết bao ) “ *] giữ mãi tấm lòng trung cô đơn với giang sơn nhà Đường; Bá Nhân [* Bá Nhân 伯仁, tên tự của Chu Nghĩ 周 顗, người vùng An-thành 安成 Nhữ-nam 汝南 ( nay là phía đông nam huyện Nhữ-nam 汝南縣, tỉnh Hà-nam 河南省 ), từng giữ chức thượng thư tả bộc xạ 尚書左僕射, hưởng công cha mà được phong tước hầu, nên còn có tên là Chu hầu 周侯. Tham khảo Tấn thư 晉書, chương Vương Đạo truyện 王導傳. Vào thời Tấn Huệ đế 晉惠帝, các danh sĩ lánh nạn phía bắc, xuống nơi này tụ tập ( tham khảo do cụm Vĩnh-gia chi họa 永嘉之禍 mà có cụm từ Y quan nam độ 衣冠南渡. ). Trong một cuộc họp, Bá Nhân đã khảng khái mà thốt ra câu “ Phong cảnh bất thù, cử mục hữu giang hà chi dị 風景不殊, 舉目有江河之 異 ( Cảnh vật không khác, mà sao ngước mắt nhìn sông nước thấy xa lạ ). Nói rồi nước mắt rưng rưng. *] giỏ hai hàng lệ khóc than cho vận mệnh nước Tấn. Mấy năm gần đây các biến cố khiến cho con người già đi; thu về nơi xứ lạ khiến lòng khách chan chứa. Ba chục năm trời danh hão [* hư danh 虛名: ( a. Lời khen không xứng với thực tế . Theo Hạt quan tử 鶡冠子, chương Độ vạn 度萬: “ Hư danh tương cao, tinh bạch vi hắc 虛名相高, 精白為黑 ( Lời quá khen, trắng toát thành đen ) “ . Từ Can 徐干, cũng viết là 徐 幹, 170 – 217, nhà văn thời Đông Hán 東漢, trong Trung luận 中論, chương Vong quốc 亡國 : “ Mãng chi vi nhân dã , nội thật gian tà , ngoại mộ cổ nghĩa, diệc sính cầu danh nho, trưng mệnh thuật sĩ … đồ trương thiết hư danh dĩ khoa hải nội , Mãng diệc tốt dĩ diệt vong 莽 之為人也, 內實姦邪, 外慕古義, 亦聘求名 儒, 徵命術士 … 徒張設虛 名以誇海內,莽 亦卒以 滅 亡 ( Vương Mãng là một người, trong lòng thật là gian tà, nhưng vẻ bề ngoài lại tỏ ra trọng nghĩa cũ, lại ưa thích lôi kéo những học giả danh tiếng, thu phục kẻ cơ hội,… để huênh hoang mang cái danh hão khoe cùng mọi người, Mãng sớm bị tiêu ma mà thôi ) “. Tần Quan 秦觀 , 1049 – 1100, nhà văn thời Bắc Tống 北 宋 trong Tài dụng thượng 財用上 : “ Tấn nhân Vương Diễn giả, khẩu bất ngôn tiền nhi chỉ dĩ vi a đổ vật, thần thiết tiếu chi, dĩ vi thử nãi gian nhân cố vi kiểu kháng, đạo hư danh vu ám thế dã 晉 人 王衍 者, 口不言錢 而指以為 阿堵物, 臣竊笑之, 以為此乃姦 人故為矯亢, 盜虛名 於暗世也 ( Vương Diễn, người nước Tấn, miệng không nói tiền mà dùng cụm “ cái của khỉ kia “. Thần chỉ cười thầm, đó là người gian mà làm bộ khác người, trộm cái lời rỗng tuếch mà loè thiên hạ ) “)*] có làm được cái gì; muôn việc cũ quay đầu nghĩ lại thôi đều phó cho giấc mộng nơi cành phiá nam [* Nam kha 南柯: cành phía nam , trong cụm Nam-kha mộng 南柯夢 , Nam-kha là một quận trong Hoè quốc, Hoè quốc mộng 槐國夢 hay Hoè-an mộng 槐安夢 đúng hơn là Đại hòe an quốc mộng 大槐安國 夢 theo truyện thần kì của Lí công Tá 李公佐, nhà văn thời Đường 唐, nhan là Nam kha thái thú truyện 南柯太守傳, Thuần vu Phần 淳於棼 ngồi uống rượu dưới gốc cây hoè , khi say rồi mơ thấy tới nơi cửa thành có đề chữ Đại hòe an quốc 大槐安國 . Được vua nước này tuyển làm phò mã , bổ nhiệm chức thái thú quận Nam kha ( Nam kha thái thú 南柯 太守 ) , làm được ba mươi năm , hưởng giàu sang phú quí. Khi tỉnh giấc, thấy dưới gốc cây hoè có tổ kiến lớn, cành phía nam cũng có một tổ nhỏ . Suy ra từ giấc mơ tổ̉ kiến lớn là Đại hòe an quốc , tổ nhỏ là quận Nam-kha. Sau này cụm từ dùng chỉ “ cuộc đời là một giấc mộng “, “ giàu sang chỉ là cảnh vô thường “. Lục Du 陸游, 1125—1210 nhà thơ thời Nam Tống 南 宋, trong Thu vãn 秋晚 : “ Huyễn cảnh hòe an mộng, Nguy cơ trúc tiết than 幻境 槐安 夢, 危機竹節灘 ( Mơ Hoè an cảnh ảo, Thác Trúc tiết khi nguy ) “. Nguyễn gia Thiều : trong Cung oán ngâm khúc câu 83-84 “ Giấc Nam-kha khéo bất bình, Bừng con mắt dậy thấy mình tay không “*]
Dịch vần :

Nước nhà từ lúc loạn lên rồi,
Muôn dân cực khổ biết nhờ ai!
Đời Đường, Tử Mĩ lòng trung giữ,
Nước Tấn, Bá Nhân lệ tiếc rơi.
Mấy năm loạn lạc người đâm cỗi,
Thu tới chân trời dạ rối bời.
Ba chục năm dư, danh dự hão,
Mọi sự suy ra hệt mộng thôi!

Và về thăm làng , với một tâm trạng não nề trong bài

Qui Côn-sơn chu trung tác.
歸 崑 山 舟 中 作

Thập niên phiêu chuyển thán bồng bình,
十年飄轉嘆蓬萍
Qui tứ dao dao nhật tự tinh
歸思搖搖日似旌
Kỷ thác mộng hồn tầm cố lý,
幾托夢魂尋故里
Không tương huyết lệ tẩy tiên oanh.
空將血淚洗先塋
Binh dư cân phủ ta nan cấm,
兵餘斤斧嗟 難禁
Khách lí giang sơn chỉ thử tình.
客裡江山只此情
Uất uất thốn hoài vô nại xử,
灪灪寸懷無奈處
Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh.
船窗推枕到天明
Giải xuôi : Viết ra khi đi thuyền về Côn Sơn.
Mười năm trôi nổi than cảnh bồng bềnh [* bồng bình 蓬萍 hay đảo ngược thành bình bồng 萍蓬 : cỏ bồng và bèo. Bèo trôi trên sông, phó mặc cho nước cuốn, Bồng : loại cỏ rễ cạn, mọc thành hình cầu, vào mùa thu lá bị khô héo, khi gió thổi cuốn đi cả cụm. Dùng để thí dụ thân thế long đong qua cụm chuyển bồng 轉蓬 . Theo Hậu Hán thư 後漢書, chương Dư phục chí 輿服志: “ Thượng cổ thánh nhân, kiến chuyển bồng thủy tri vi luân 上古聖人, 見轉蓬始知為輪 ( Thánh nhân thời cổ, thấy cỏ bồng theo gió cuốn đi mà chế ra bánh xe )”. Tào Thực 曹植, 192 – 232 , nhà thơ nước Ngụy 魏 thời Tam quốc 三國 trong Tạp thi 雜詩: “ Chuyển bồng li bổn căn , Phiêu diêu tùy trường phong 轉蓬離本根, 飄颻隨長風 ( Bồng cuốn rời gốc chính, lênh đênh theo gió mạnh )”. Lí Thiện 李善 chú có dẫn sách Thuyết uyển 說苑 : “ Lỗ ai công viết : Thu bồng ác kì bổn căn, mĩ kì chi diệp, thu phong nhất khởi , căn bổn bạt hĩ 魯哀公 曰 :秋蓬惡 其本根,美其枝葉, 秋風一起,根本拔矣 ( Lỗ ai công nói rằng : Cỏ bồng vào mùa thu ghét cái gốc chính của mình, mà tự hào về cái đẹp của lá, Khi gió thu vừa nổi, gốc chính bật lên cả ) “. Sầm Tham 岑參 ,715 – 770 , nhà thơ thời Đường 唐 trong Tống Kì Nhạc qui Hà-đông 送祁樂歸河東 : “ Điểu thả bất cảm phi, Tử hành như chuyển bồng 鳥且不敢飛, 子行如轉蓬 ( Chim đã không dám bay, Anh đi hệt cỏ cuốn ) “. Đỗ Phủ 杜甫, 712 – 770 nhà thơ thời Đường 唐 trong Tương biệt Vu-giáp tặng Nam khanh huynh Nhương tây quả viên tứ thập mẫu 將別巫峽贈南卿兄瀼西果園四十畝: “ Đài trúc tố sở hảo, Bình bồng vô định cư 苔竹素所好, 萍蓬無定居 ( Rêu trúc phô vẻ đẹp, Bèo, bồng cứ nổi trôi. ) “ *] ; ý mong về quê náo nức lúc nào cũng như cờ lộng gió. Bao nhiêu lần nhờ mộng mà về quê cũ; chỉ đem nước mắt rướm máu mà rưới lên mộ tổ tiên. Trong cảnh chiến tranh gươm dáo [* cân phủ 斤斧 : vũ khí, binh khí . Tôn quang Hiến 孫光憲, 900 – 968, nhà thơ thời Bắc Tống 北 宋 trong Bắc mộng tỏa ngôn 北夢瑣言, quyển 7 : “ Tuyên tông sách Triệu Hỗ thi, kì quyển thủ hữu “ Đề Tần hoàng thi “, kì lược vân : “ Đồ tri lục quốc tùy cân phủ, Mạc hữu quần nho định thị phi 宣宗索 趙嘏 詩,其卷首有 ”題秦皇詩”,其略云:‘ 徒知六國隨斤 斧,莫有羣儒 定是非 ( Vua Tuyên Tông theo bài thơ của Triệu Hỗ, trong tập có bài Đề Tần hoàng thi, tóm lược như sau : “ Tóm thâu sáu nước nhờ binh khí, Phải trái đừng nghe bọn hủ nho.” ) “ *], khó tránh nổi được; nơi đất khách chỉ có mỗi mối tình này. Tấm lòng tấm tức biết làm sao được; nơi cửa thuyền trằn trọc trên gối, cho đến sáng trời.
Dịch vần :

Mười năm lưu lạc khổ bơ vơ,
Lòng về náo nức hệt ngọn cờ.
Chỉ cậy hôn mê tìm lối xóm,
Uổng mang máu lệ rưới trên mồ.
Giữa chốn giáo gươm khôn tránh hoạ,
Trong nơi đất khách, trí toan lo.
Tấm lòng ấm ức không nơi giải,
Mạn thuyền trằn trọc gối vò tơ.

Tuy thế lòng vẫn mong trả nợ nước; trong bài :

Đoan-ngọ nhật.
端午日
[* Đoan-ngọ nhật 端午日: là ngày mồng 5 tháng 5 theo nông lịch. Chữ Ngọ 午 là do chữ Ngũ 五 viết tháu mà thành. Theo truyền thống trong dân gian là một tiết trong năm. Ngày này đã trở thành lễ hội tưởng niệm ngày Khuất Nguyên trầm mình trên sông Mịch-la 汩羅. Trong lễ hội có tập tục gói bánh tro ( khỏa tống tử 裹粽子 ) và đua thuyền rồng ( trại long chu 賽龍舟 ), trong dân gian còn có tục gọi là ngày giết sâu bọ *]
Thiên trung cộng hỉ trị giai thần,
天中共喜值隹辰
Tửu phiếm xương bồ tiết vật tân.
酒泛菖蒲節物新
Tiến thiếp đương niên tư Vĩnh Thúc,
進帖當年思永叔
Trầm Tương để sự thán Linh Quân.
沉湘底事嘆靈圴
Tịch tà bất dụng ti triền tý,
闢邪不用絲纏臂
Tùy tục liêu vi ngải kết nhân.
隨俗聊為艾結人
Nguyện bả lan thang phân tử hải
願把蘭湯分四海
Tòng kim táo tuyết cựu ô dân.
從今澡雪舊污民
Giải xuôi : Ngày đoan ngọ.
Giữa trưa ai cũng mừng gặp được lúc trời đẹp, nhân sang tiết mới nên rót rượu ngâm cỏ xương bồ [* xương bồ 菖蒲 tên một loại thực vật danh , thuộc loại thảo sống dưới nước, có hương thơm. Theo Hiếu kinh 孝經, chương Viên thần khế 援神契 : “ Tiêu khương ngự thấp, Xương bồ ích thông 椒薑禦濕, 菖蒲益聰 ( Tiêu, gừng ngăn nhức, Xương bồ tỉnh thêm ). Li đạo Nguyên 酈道元, 470 – 527, nhà văn hóa Bắc Ngụy 北魏, trong Thủy kinh chú 水經註, chương Y thủy 伊水 : “ Thạch thượng xương bồ , nhất thốn cửu tiết, vi dược tối diệu , phục cửu hóa tiên 石上菖蒲, 一寸九 節, 為藥最妙, 服久化僊 ( Xương bồ trên đá, Một tấc chín cành. Làm thuốc rất hay, Uống lâu thành tiên ) “ *] để uống. Vẫn nhớ chuyện Vĩnh Thúc [* Vĩnh Thúc 永叔 tên tự của Âu Dương Tu 歐 陽 修, 1007 – 1072, hiệu Tuý ông 醉翁, nhà thơ thời Bắc Tống 北 宋 . Ông có bài thiếp Hoàng đế cáp đoan ngọ thiếp tử từ 皇帝閤端午帖子詞 : “Thuấn vũ lai hà tục 舜舞來遐俗/, Nghiêu nhân hiệp cửu khu 堯仁洽九區 / ngũ binh tiêu dĩ đức 五兵消以德, / hà dụng xích linh phù, / 何用赤靈符 ( Chốn xa mưa Thuấn rưới, Khắp nước Nghiêu nhân nhuần. Dùng đức, binh triệt hết, Bùa rồng đỏ đâu cần. ) “*] dâng giấy năm xưa, Than tiếc Linh Quân [* Linh Quân 靈圴 là tên tự của Khuất Nguyên 屈原 340 BC – 278 BC, tên là Bình 平, cũng có tên hiệu là Chính Tắc 正則 , người nước Sở 楚, thời Chiến-quốc 戰國. Sinh quán vùng Đan-dương丹陽 ( nay là huyện Tỉ-qui 秭歸縣, Hồ-bắc ) Từng giữ chức Tam lư đại phu 三閭大夫. Thời vua Hoài Vương 懷王 mắc lỗi và bị phóng trục lên vùng bắc Hán, bi phẫn viết ra thiên Li tao 離騷 để tỏ lòng trung trinh. Sau đó lại gọi về. Ít lâu sau lại mắc lỗi ‘ nói bừa ‘, lần này phóng trục xuống vùng nam Sở ( Giang Nam 江南 ). Vào tháng năm năm BC 278, quân nhà Tần phá tan kinh đô Dĩnh 郢 của nước Sở, ông quá bi phẫn, nên ôm đá mà nhảy xuống sông Mịch-la 汩羅 trong vùng Trường-sa 長沙. Thêm các chương Thiên Vấn 天問, Cửu Chương九章, gom chung lại là Sở Từ 楚辭 *] về việc chìm xuống đáy sông Tương. Để trừ tà, không buộc chỉ nơi cổ tay [* ti triền tí 絲纏臂 : buộc chỉ cổ tay . Theo tập tục Trung-quốc, vào tiết đoan ngọ dân chúng kỉ niệm ngày Khuất Nguyên tự trầm, có làm bánh tro, bánh ú ( tống tử 粽子, hay vụ giác thử 鶩角黍 ), có bọc lá tre hay lá lau , cột chỉ năm mầu. thả xuống sông. Có người giải thích để cho cá ăn thay vì rỉa xác Khuất Nguyên. Theo Sơ học kí 初學記 , quyển tứ trích dẫn sách Phong thổ kí 風土記 của Chu Xử 周處, 236 – 297, nhà văn học thời Tây Tấn 西晋 : “ Trọng hạ đoan ngọ, phanh vụ giác thử 仲夏端午, 烹鶩角黍 ( Giữa hè, vào dịp tiết đoan ngọ, luộc bánh ú ) “ . Ngô Quân 吳均 , nhà thơ nước Lương 梁 , thời Nam Bắc triều 南北朝, trong Tục tề hài kí 續齊諧記 , chương Ngũ hoa ti tống 五花絲粽 : “ Khuất nguyên ngũ nguyệt ngũ nhật đầu Mịch-la thủy, Sở nhân ai chi, chí thử nhật , dĩ trúc đồng tử trữ mễ, đầu thủy dĩ tế chi … kim thế ngũ nguyệt ngũ nhật tác tống , tịnh đới đống diệp ngũ sắc ti, giai Mịch-la di phong dã 屈原 五月五日投 汨羅水 , 楚 人哀之, 至此日, 以竹筒子貯米, 投水以祭之…世五月五日作粽, 並帶棟 葉五色絲, 皆 汨羅 遺風也 ( Khuất Nguyên vào ngày mồng năm tháng năm nhảy xuống sông Mịch-la, Người nước Sở đau lòng, nên hàng năm tới ngày này, lấy ống tre chứa gạo, thả xuống sông để tế…. Đời sau vào ngày mồng năm tháng năm làm bánh cùng cột vào sống lá có tơ năm mầu, đều là phong tục còn truyền lại từ vùng sông Mịch-la ) “. Tô Thức 蘇軾, 1036 – 1101 nhà thơ thời Bắc Tống 北 宋 trong bài Trúc chi ca 竹枝歌 : “ Thủy tân kích cổ hà huyên điền, Tương tương khấu thủy cầu Khuất Nguyên 水濱擊鼓何喧闐, 相將扣水求 屈原 ( Bên sông trống đánh sao náo nhiệt, Tưởng như khuấy nước tìm Khuất Nguyên ) “ . Âu dương Tu 歐陽修 , 1007 – 1072, nhà thơ thời Bắc Tống 北 宋 trong Ngư gia ngạo 漁家傲 bài Ngũ nguyệt lựu hoa yêu diễm hồng từ 五月榴花妖艷烘 詞 : “ Lục dương đới vũ thùy thùy trọng, Ngũ sắc tân ti triền giác tống 綠楊帶雨垂垂 重, 五色新絲纏角粽 ( Dương xanh bị mưa, nặng nên rũ ,Tơ năm mầu mới cột bánh ú ) “ . Trương Củ 張榘 ???- 1208 – ???, nhà thơ thời Bắc Tống 北 宋 trong Niệm nô kiều 念奴嬌 : “ Sở Tương cựu tục , Kí bao thử trầm lưu , miễn hoài trung tiết . Thùy vãn Mịch-la thiên trượng tuyết , Nhất tẩy ta hồn li biệt . Doanh đắc nhi đồng , hồng ti triền tí, giai thoại niên niên thuyết . Long chu tranh độ , khiên kì chúy cổ kiêu liệt 楚湘舊俗, 記包黍 沈流, 緬懷忠節. 誰輓汨羅千丈 雪, 一洗些魂離 別. 贏得兒童, 紅絲纏臂, 佳話年年說. 龍舟爭渡, 搴旗捶鼓驕劣 ( Tục xưa Sở Tương, Nhớ gói gạo thả trôi,Thương hoài lòng trung. Ai khóc ngàn trượng tuyết nơi Mịch-la, Để rửa hồn xa cách kia, Có được lũ trẻ, Tơ hồng cột tay, Giai thoại năm năm kể lại. Thuyền rồng tranh đua, Vung cờ, gióng trống ngạo nghễ ) “ . Tô Thức 蘇軾, 1036 – 1101, nhà thơ thời Bắc Tống 北 宋 trong bài Hoán khê sa : “ Khinh hãn vi vi thấu bích hoàn , Minh triêu đoan ngọ dục phương lan . Lưu hương trướng nị mãn tình xuyên , Thái tuyến khinh triền hồng ngọc tí , tiểu phù tà quải lục vân hoàn 輕汗微微透碧紈,明朝端午浴芳蘭. 流香漲膩滿 晴川, 彩綫輕纏紅 玉臂, 小符斜掛綠 雲鬟 ( Sáng ngày đoan ngọ tắm nước thơm. Hương trôi sáp bóng dòng yên ắng, Sợi đẹp nhẹ đeo tay ngọc hồng. Bùa nhỏ đeo nghiêng, tóc mây biếc ) “ . Triệu trường Khanh 趙長卿 , ??? – ???, nhà thơ thời Nam Tống 南 宋 trong tập Túy Bồng-lai 醉蓬莱 , bài Đoan ngọ 端午: “ Na cánh ân cần 那更殷勤, / Tái tam chúc nguyện 再三祝願. / Đấu xảo hợp hoan 鬥巧合歡, / Thái ti triền tí 彩絲纏臂. / Khắc ngọc hương bồ 刻玉香蒲, / Phiếm kim quang nghênh túy 泛金觥迎醉 / . Ngọ nhật huân phong 午日熏風 , / Sở từ cao vịnh 楚詞高詠, / Độ át vân thanh thúy 度遏雲聲脆 / Xích khẩu bạch thiệt 赤口白舌, / Tòng kim tiêu diệt 從今消滅, / Chư dư khả ý 諸餘可意 ( Sao mà náo nức, Ba lần cầu xin. Họp nhau khoe khéo. Tơ óng cột tay, Cỏ bồ hương ngát. Chén vàng cùng say, Mép đỏ lũ vẹt, Từ nay chết hết, Bọn nó hiểu ý ) “ *], theo phong tục cũ cũng lấy lá ngải bện hình người [* Ngải kết nhân 艾結人 : lấy lá ngải cứu kết thành hình người nộm. Tông Lẫm 宗懍 , 501 – 565 , nhà văn nước Lương 梁 thời Nam Bắc triều 南北朝, trong Kinh Sở tuế thì kí 荊楚歲時記: “ Ngũ nguyệt ngũ nhật tứ dân tịnh đạp bách thảo… thái ngải dĩ vi nhân, huyền môn hộ thượng, dĩ nhương độc khí 五月五日四民並蹋百草… 采艾以為人, 懸門戶上, 以禳毒氣 ( Ngày mồng năm tháng năm, dân các nơi, cùng dẫm cỏ…hái lá ngải bó thành hình người, treo trước cửa nhà, để trừ khí độc ) “ *]. Nguyện đem nước thơm [* lan thang 蘭湯: nước tắm có pha dầu thơm. Khuất Nguyên 屈原 trong Sở Từ 楚辭 chương Cửu ca 九歌 , bài Vân trung quân 雲中君 : “ Dục lan thang hề mộc phương, hoa thải y hề nhược anh 浴蘭湯兮沐芳,華採衣兮若英 ( Tắm nước lan chừ gội nước thơm, Áo năm mầu chừ hoa đỗ nhã ) “. Nguyễn Tịch 阮籍, 210 – 263, nhà thơ thời Tam quốc 三國, nước Ngụy 魏 trong Tiển hầu phú 獮猴賦 : “ Mộc lan thang nhi tư uế hề, Phỉ Tống triều chi mị nhân 沐蘭湯而滋穢兮, 匪宋朝之媚人 ( Nước ấm mộc lan rửa dơ chừ, Không phải là người đẹp triều Tống sao ) “ . Vũ đế 武帝 nước Lương 梁 , thời Nam Bắc triều 南北朝, trong bài Hoạ thái tử sám hối thi 和太子懺悔詩 : “ Lan thang dục thân cấu, Sám hối tịnh tâm linh 蘭湯浴身垢,懺悔淨心靈 ( Nước lan rửa thân dơ, Sám hối khiến tâm tĩnh. ) “*] chia đều khắp bốn biển, để từ nay rửa sạch cái nhơ nhớp cũ của nhân dân.
Dịch vần :
Giữa trưa trời đẹp lại vui cùng,
Tiết mới, xương bồ ngâm rượu trong.
Không quên Vĩnh Thúc, ngày dâng sớ,
Còn tiếc Linh Quân lúc nhảy sông.
Theo tục, người ngải bện thành, có,
Trừ ma, cổ tay tơ cột, không.
Xin lấy nước thơm vung bốn biển,
Nhục cũ nhân dân rửa sạch bong.

Và rồi nơi cửa sông Bạch-đằng, chiến thắng quân xăm lăng của dân Việt bừng lên trong lòng ông.

Bạch-đằng hải khẩu.
白 藤 海 口

Sóc phong xuy hải, khí lăng lăng ,
朔風吹海,氣凌凌
Khinh khởi ngâm phàn quá Bạch-đằng.
輕起吟帆過白藤
Ngạc đoạn kình khô sơn khúc khúc,
鱷斷鯨刳山曲曲
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.
戈沉戟折岸層層
Quan hà bách nhị do thiên thiết,
關河百二由天設
Hào kiệt công danh thử địa tằng.
豪傺功名此地曾
Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,
往事回頭嗟已矣
Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng.
臨流撫影意難勝

Giải xuôi : Cửa biển Bạch-đằng .
Gió bấc thổi trên biển, hơi biển ngùn ngụt; nhẹ kéo cánh buồm thuyền ngắm cảnh làm thơ để đi qua cửa Bạch Đằng. Từng khúc núi [* rải rác *] như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ; chồng từng lớp như những mũi giáo chìm, cây xích gãy. Ải sông hiểm trở [* Bách nhị 百二 Dùng hai người chống lại trăm người, lấy ít chọi nhiều . Sau này dùng chỉ non sông hiểm trở. Tư-mã Thiên 司馬遷 trong Sử kí 史記 chương Cao tổ bổn kỉ 高祖本紀 : “ Tần, hình thắng chi quốc , đái hà sơn chi hiểm, huyền cách thiên lí , trì kích bách vạn , Tần đắc bách nhị yên 秦, 形勝之國, 帶 河 山之險, 縣隔千里, 持戟百萬, 秦 得百二焉 ( Nước Tần có hình thể thuận lơi, có núi sông chắn hiểm, cách xa cả ngàn dặm, ngăn chặn được cả trăm vạn người. Tên được dùng mô tả cái thế chỉ cần hai người mà chống giữ được trăm kẻ địch. Nước Tần có được cái thế “ Trăm hai “.) “. Bùi Nhân 裴駰 trong Tập giải 集解 có viện dẫn Tô Lâm 蘇林 nói : “ Tần địa hiểm cố , nhị vạn nhân túc đương chư hầu bách vạn nhân dã 秦 地險固, 二萬人 足當諸侯百萬人也 ( Đất Tần hiểm trở, hai vạn người có thể địch lại trăm vạn người của các chư hầu ) “. Đỗ Phủ 杜甫, 712 – 770 nhà thơ thời Đường 唐 trong Chư tướng ngũ thủ 諸將五首, bài ba : “ Lạc-dương cung điện hóa vi phong, Hưu đạo Tần-quan bách nhị trùng. 洛陽 宮殿化為烽,休道秦關 百二重 ( Cung điện Lạc-dương bị cháy tiêu, Trăm hai Tần ải, chớ kêu rêu ) “. Tư-mã Trinh 司馬貞, ??? – ???, sử gia đời Bắc Tống trong Sách ẩn 索隱, có dẫn lởi Ngu Hỉ 虞喜 nói rằng : “ Ngôn chư hầu trì kích bách vạn, Tần địa hiểm cố, nhất bội vu thiên hạ, cố vân đắc bách nhị yên , ngôn bội chi dã, cái ngôn Tần binh đương nhị bách vạn dã 言諸侯持戟百萬,秦 地險固,一倍 於天下, 故云得百二焉, 言倍之也, 蓋言 秦 兵當二百 萬也 ( Nói rằng chư hầu có trăm vạn người cầm dáo, mà đất Tần hiểm cố, hơn trong thiên hạ, cho nên mới nói rằng được trăm hai , nói là hơn vậy. Vì nói quân Tần đương đầu với hai trăm vạn ) “. Trương Tải 張載, 1020 – 1077, nhà văn thời Bắc Tống 北 宋 trong bài Kiếm các minh 劍閣銘 : “ Tần đắc bách nhị, tính thôn chư hầu 秦 得百二,並吞諸侯 ( Tần được trăm hai, nuốt gọn chư hầu. ) “. Theo Chu thư 周書 , chương Hạ lan Tường truyện 賀蘭祥傳 : “ Cố tắc thần cao Tây nhạc , hiểm tắc bách nhị do tại 固則神皋 西岳 , 險則百二猶在 ( Xưa vì thần minh ở̉ núi Tây, hiểm tất bách vạn trong đó ) “. Vương thanh Huệ 王清惠, 1265 – 1294, nhà thơ thời Nam Tống 南 宋 trong Mãn giang hồng 滿江紅 , bài Đề dịch bích 題驛壁 : “ Long hổ tán, phong vân diệt , thiên cổ hận , bằng thùy thuyết!Đối sơn hà bách nhị , lệ triêm khâm huyết 龍虎散, 風雲滅, 千古恨, 憑誰説!對山河百二, 淚沾 襟血 ( Rồng cọp tan, gió mây ngưng, suốt đời hận, nói cùng ai. Với non sông bách nhị, lệ rơi áo máu ) “.*] là do trời đặt ra; sự nghiệp của các bậc anh hùng từng sảy ra nơi đất này [* Sông Bạch Đằng nổi tiếng với 3 chiến công của dân tộc Việt Nam: Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 938: Ngô Quyền đánh thắng quân xâm lược Nam Hán. Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 981: Hoàng đế Lê Đại Hành đập tan quân Tống xâm lược. Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 1288: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại thắng quân xâm lược Nguyên (trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba). Hiện ở khu vực cửa sông Bạch Đằng có 3 ngôi đền thờ 3 vị anh hùng trên đó là đình Hàng Kênh (Lê Chân, Hải Phòng) thờ Ngô Quyền, đền Vua Lê Đại Hành ở thị trấn Minh Đức (Thủy Nguyên, Hải Phòng) và đền Trần Hưng Đạo ở xã Yên Giang,( Quảng Yên, Quảng Ninh). Nguồn : http://vi.wikipedia.org/wiki/ *] . Quay đầu xem việc cũ, thôi hết rồi; cúi xuống dòng mò bóng, nói không hết ý.
Dịch vần :

Hơi bể bừng lên, gió bắc đưa,
Bạch đằng đi tới, cuốn buồm thơ.
Gươm gãy, dáo chìm, bờ khuất khúc,
Kình băm, ngạc chặt, núi lô nhô.
Cửa ải trăm hai, trời đã đặt,
Anh hùng sự nghiệp, đất từng phô.
Nghĩ coi việc cũ, thôi đành hết,
Dưới sông tìm bóng ý ngẩn ngơ.

Rồi tìm người đồng chí, mưu đồ việc lớn :

Kí hữu.
寄友
Bình sinh thế lộ thán truân chiên,
平生世路嘆迍邅
Vạn sự duy ưng phó lão thiên.
萬事惟應付老天
Thốn thiệt đãn tồn không tự tín,
寸舌但存空自信
Nhất hàn như cố diệc kham liên.
一寒如故亦堪憐
Quang âm thúc hốt thì nan tái,
光陰倏忽時難再
Khách xá thê lương dạ tự niên.
客舍淒涼夜似年
Thập tải độc thư bần đáo cốt,
十載讀書貧到骨
Bàn duy mục túc tọa vô chiên.
盤惟苜蓿坐無氈

Giải xuôi : Gửi bạn.
Trong cuộc đời thường than vãn là đường đi vất vả [* truân chiên 迍邅 , cũng viết là 屯邅: ở vào hoàn cảnh bất lợi, khó khăn , khốn đốn . Cụ thể chỉ đường đi găp gềnh. Tả Tư 左思, 250 – 305, nhà văn học thời Tây Tấn 西晋 trong bài Vịnh sử 詠史, bài 7 : “ Anh hùng hữu truân chiên , Do lai tự cổ tích 英雄有迍邅, 由來自古昔 ( Anh hùng gặp khó khăn, Gốc vốn từ thời trước ) “. Trương Trạc 張鷟, 660 – 740, nhà thơ thời Đường 唐 trong Du tiên quật 游仙窟: “ Ta vận mệnh chi truân chiên, Thán hương quan chi miễu mạc 嗟運命之迍邅, 嘆鄉關之眇邈 ( Kêu vận mệnh gặp khó khăn, Than làng cũ nơi xa tắp ) “. Sái Ung 蔡邕, 133 – 192, nhà thư pháp thời Hán 漢, trong Thuật hành phú 述行賦 : “ Đồ truân chiên kì kiển liên, Lạo ô trệ nhi vi tai 途迍邅其蹇連, 潦污滯而為災 ( Đường khấp khểnh, bước gập gềnh, Lội nước lụt nên gặp nạn ) “ *] , nên mọi sự cứ phó mặc cho ông trời già. Tấc lưỡi vẫn còn thì vẫn còn tự tin, cái nghèo như xưa thì nghĩ cũng đáng thương. Ngày tháng qua vun vút, thời gian khó lấy lại; quán trọ buồn tênh, một đêm mà dài như một năm. Mười năm đọc sách [* thập tải độc thư 十載讀書 : học tập trong mười năm , tương đồng với thập niên độc thư 十年讀書. Nam sử 南史 , quyển 37 : Thẩm Khánh chi truyện 沈慶之傳: “ Tảo tri cùng đạt hữu mệnh, hận bất thập niên độc thư 早知窮達有 命, 恨不十年讀書 ( Sớm biết thành bại do số, Tiếc chẳng mười năm học hành ) “ . Hoàng đình Kiên 黃庭堅, 1045 -1105, nhà thơ thời Bắc Tống 北 宋 , trong bài Tống lưu quý triển tòng quân Nhạn môn 送劉季展從軍鴈門, bài thứ nhất : “ Thiên lí hạ qua phòng khuyển dương, thập niên độc thư yếm lê hiện 千里荷戈防犬羊, 十年讀書厭 藜莧 ( Ngàn dặm vác đao phòng chó dại, Chục năm đèn sách chán rau sam ) “ *] mà vẫn nghèo trơ xương; mâm cơm chỉ có rau [* mục túc 苜蓿 : tên loại rau được viết theo âm của ngôn ngữ Đại-uyển 大苑 là buksuk . Một loại thực vật thuộc họ đậu mà ngựa thích ăn, Anh ngữ alfalfa . Các nước vùng Tây-vực 西域 thấy mọc nhiều. Thời vua Hán vũ Đế 漢武帝, Trương Khiên 張騫 đi sứ vùng Tây-vực 西域, lần đầu tiên mang từ Đại-uyển vào Trung quốc. Còn có tên là Hoài phong thảo 懷風草, Quang phong thảo 光風草 , Liên chi thảo 連枝草. Tư mã Thiên 司馬遷 trong Sử kí 史記 chương Đại-uyển liệt truyện 大宛 列傳 : “ ( Đại uyển ) tục thị tửu , mã thị mục túc . Hán sứ thủ kì thật lai . Vu thị thiên tử thủy chủng mục túc , bồ đào phì nhiêu địa . Cập thiên mã đa, ngoại quốc sử lai chúng, tắc li cung biệt quan bàng tẫn chủng bồ đào, mục túc cực vọng ( 大宛 ) 俗嗜酒,馬嗜苜蓿. 漢 使取其實來. 於是天子始種苜蓿, 蒲陶 肥饒 地. 及天馬多,外國 使來眾,則 離宮別觀旁盡種蒲萄, 苜蓿極 望 ( ( Người Đại uyển ) Thích uống rượu, ngựa ưa gặm cỏ mục túc . Sứ nhà Hán mang hột về. Nhờ đó nhà vua mới bắt đầu trồng mục túc, nho trên vùng đất mầu mỡ. Tới khi có nhiều ngựa tốt, các sứ giả nước ngoài tới nhiều, nên bên cạnh các nhà trọ, quán tiếp tân trồng mục túc, nho đầy trông hút mắt. ) “. Có cụm từ liên quan : Mục túc trường lan can 苜蓿長欄干, theo Đường thi kỉ sự 唐詩紀事 : Tíết lệnh Chi 薛令之, 683 – 756, nhà thơ thời Đường 唐 trong bài Tự điệu 自悼 : “ Triêu nhật thượng đoàn đoàn , Chiếu kiến tiên sinh bàn . Bàn trung hà sở hữu ? Mục túc trưởng lan can. Phạn sáp thi nan oản, canh hi trứ dịch khoan . Chỉ khả mưu triêu tịch, Hà do bảo tuế hàn ? 朝日上團團, 照見先生 盤. 盤中何所有?苜蓿長闌 干. 飯澀匙難綰, 羹稀箸易寬. 隻 可謀朝夕, 何由保歲寒? ( Rạng đông trời tròn vạnh, Chiếu rõ mâm nhà thầy. Trên đó có gì nhỉ ? Rau muống bàn để đầy. Cơm khô thìa khó múc, Canh ít đũa dễ quay. Đơn người đủ sáng tối, Lấy gì chống lạnh đây? ) “ . Mục túc phong vị 苜蓿風味 theo Nho lâm ngoại sử 儒林外史 , hồi thứ 48 : “ Ngã môn lão đệ huynh yếu thì thường khuất nhĩ lai đàm đàm, liêu bất hiềm ngã mục túc phong vị đãi mạn nhĩ 我們老弟兄要時常屈你來談 談, 料不嫌我 苜蓿風味怠慢你 ( Bọn tôi, anh em thân quen, nhiều lúc thường tới nói chuyện bù khú, chẳng nề hà rau cỏ xuề xoà ) *], ngồi ghế chẳng có đệm.
Dịch vần :
A.
Đời thường than vãn quãng đường xa,
Mọi việc đành trao cụ trời già.
Tấc lưỡi vẫn còn, nên cứ nói,
Nỗi nghèo như cũ, đáng thương ta.
Vun vút thời gian, khôn kéo lại,
Buồn tênh quán trọ, tối dài ra.
Mười năm đèn sách, nghèo vạc mặt,
Ngồi bệt, cơm ăn chỉ có cà.

B.
Vẫn thường than khó quãng đường đời,
Mọi sự đều trao mặc cụ trời.
Tấc lưỡi còn đây, lòng vẫn vững,
Cảnh nghèo như cũ, đáng thương thôi.
Đêm tưởng bằng năm, dài quán trọ,
Ngày qua vùn vụt, khó quay lui.
Công học mười năm, nghèo vẫn đó,
Ăn chỉ có rau, chẳng đệm ngồi.
Và trong bài :

Hoạ hương tiên-sinh vận giản chư đồng chí.
和鄉先生韻柬諸同志

Sầu lai “đốt đốt” mạn thư không
愁來咄咄漫書空
Thiên địa vô cùng thán chuyển bồng.
天地無窮嘆轉蓬
Thế sự hôi tâm đầu hướng bạch,
世事灰心頭向白
Suy nhan tá tửu vựng sinh hồng.
衰顏借酒暈生紅
Lãm huy nghĩ học minh dương phượng,
覽輝擬學鳴陽鳳
Viễn hại chung vi tỵ dực hồng.
遠害終為避弋鴻
Luân lạc thiên nhai câu thị khách,
淪落天涯俱是客
Niên lai xuất xử lược tương đồng.
年來出處略相同

Giải xuôi : Họa vần bài “ Gửi các đồng chí “ của ông trong làng .
Buồn đến, chỉ biết viết hai chữ ‘cha chả ‘ [* “đốt đốt” 咄咄 hệt như Ân Hạo 殷浩 đời Tấn, chán nản việc đời, cứ lấy tay viết bốn chữ ‘ Đốt đốt quái sự 咄咄怪事 ‘ ( Chà chà chuyện lạ ) trong không trung, tỏ ý bất mãn một cách tiêu cực . Đỗ Phủ 杜甫, 712 – 770 nhà thơ thời Đường 唐 trong Đối tuyết 對雪 : “ Sầu tọa đối thư không 愁坐正書空 ( Ngồi buồn viết chữ trên không ) và trong bài Kí Lưu Giáp-châu bá Hoa sử quân tứ thập vận 寄劉峽 州伯 華使君四十韻 : “ Đốt đốt ninh thư tự 咄咄寧書字 ( Sao viết chữ ” chà chà “, lên thế, ) “, cụm từ tỏ ý bất mãn một cách tiêu cực *] trong không khí [* thư không 書空 : lấy ngón tay làm bút để viết trong không, nói gọn của cụm Ân Hạo thư không 殷浩書空: Ân Hạo lấy ngón tay làm bút, viết câu “ Chà chà chuyện lạ ( Đốt đốt quái sự 咄咄怪事 ) “ vào trong không. Tham khảo Tấn thư 晉書 quyển 77 : Ân Hạo truyện 殷浩傳 . Vào thời Tấn, Ân Hạo được lệnh mang quân đi đánh dẹp vùng biên giới, để giữ yên vùng trung nguyên. Sau khi bị bại trận ở Diêu-tương 姚襄, khiến cho Hoàn Ôn 桓溫 khiến trách, Ân Hạo bị truất phế thành thường dân . Không tỏ ý bất mãn, mà chỉ suốt ngày ngồi lấy ngón tay viết lên không trung bốn chữ “ Đốt đốt quái sự 咄咄怪事 “. Sau này cụm từ dùng chỉ chuyện kì quặc, không nói lên được. Nguyên đại tướng Hoàn Ôn và Ân Hạo vốn bất hoà. Khi Ân Hạo đang giữ chức Dương-châu thứ sử 揚州刺史, Vương hi Chi 王羲之 có khuyên Ân Hạo, thế địch đang mạnh, nên coi việc nước là trọng, Ân Hạo không nghe, nhận nhiệm vụ đi đánh dẹp phía bắc, thua trận nên mới bị phát vãng tới Tín-an 信安, trong lòng bất bình mà không nói ra lời được. Lưu nghĩa Khánh 劉義慶, 403 – 444, nhà văn nước Tống 宋 thời Nam Bắc triều 南北朝, trong Thế thuyết tân ngữ 世說新語, chương Truất miễn 黜免: “ Ân trung quân ( Ân Hạo ) bị phế tại Tín-an, chung nhật hằng thư không tác tự , Dương- châu lại dân tầm nghĩa trục chi, thiết thị, duy tác ‘ đốt đốt quái sự ’ tứ tự nhi dĩ 殷中軍 ( 殷浩 ) 被廢在信安, 終日恆書 空作字, 揚州吏民尋義 逐之, 竊視, 唯作 ’咄咄怪事’ 四字而已 ( Quan trung-quân họ Ân ( Ân Hạo ) bị phát vãng tới Tín-an, suốt ngày viết chữ trong không. Các nhân viên ở Dương-châu tới dò coi là chữ gì, lến nhìn , chỉ thấy bốn chữ “ Chà chà chuyện lạ “ mà thôi )*], trong quãng trời đất vô cùng, thân mình xoay chuyển như cỏ bồng [* bồng蓬 : loại cỏ rễ cạn, mọc thành hình cầu, vào mùa thu lá bị khô héo, khi gió thổi cuốn đi cả cụm. Dùng để thí dụ thân thế long đong qua cụm chuyển bồng 轉蓬 . Theo Hậu Hán thư 後漢書, chương Dư phục chí 輿服志: “ Thượng cổ thánh nhân, kiến chuyển bồng thủy tri vi luân 上古聖人, 見轉蓬始知為輪 ( Thánh nhân thời cổ, thấy cỏ bồng theo gió cuốn đi mà chế ra bánh xe )”. Tào Thực 曹植, 192 – 232 , nhà thơ nước Ngụy 魏 thời Tam quốc 三國 trong bài Tạp thi 雜詩: “ Chuyển bồng li bổn căn , Phiêu diêu tùy trường phong 轉蓬離本根, 飄颻隨長風 ( Bồng cuốn rời gốc chính, lênh đênh theo gió mạnh )”. Lí Thiện 李善 chú có dẫn sách Thuyết uyển 說苑 : “ Lỗ ai công viết : Thu bồng ác kì bổn căn, mĩ kì chi diệp, thu phong nhất khởi , căn bổn bạt hĩ 魯哀公 曰 :秋蓬惡其 本根,美其枝葉, 秋風一起,根本拔矣 ( Lỗ ai công nói rằng : Cỏ bồng vào mùa thu ghét cái gốc chính của mình, mà tự hào về cái đẹp của lá, Khi gió thu vừa nổi, gốc chính bật lên cả ) “. Sầm Tham 岑參 ,715 – 770 , nhà thơ thời Đường 唐 trong Tống Kì Nhạc qui Hà-đông 送祁樂歸河東 : “ Điểu thả bất cảm phi, Tử hành như chuyển bồng 鳥且不敢飛, 子行如轉蓬 (Chim đã không dám bay, Anh đi hệt cỏ cuốn ) “. Đỗ Phủ 杜甫, 712- 770 nhà thơ thời Đường 唐 trong Tương biệt Vu-giáp tặng Nam khanh huynh Nhương tây quả viên tứ thập mẫu 將別巫峽 贈南 卿兄瀼西果 園四十畝: “ Đài trúc tố sở hảo, Bình bồng vô định cư 苔竹素所 好, 萍蓬無定居 ( Rêu trúc phô vẻ đẹp, Bèo, bồng cứ nổi trôi. ) “ *] . Đối với việc đời, lòng mình đã thành tro nguội, đầu lại bạc, sắc mặt cằn cỗi, nên mượn rượu làm cho ửng hồng. Nhìn thấy vẻ sáng nên muốn học con chim phượng kêu dưới ánh dương [* Minh dương phượng 鳴陽鳳 tương tự với cụm Minh phượng triều dương 鳴鳳朝陽: tỏ ý kính trọng bậc hiền tài. Người đời sau dùng chỉ bề tôi hiền gặp được vua anh minh Trong Thi Kinh 詩經, phần Đại nhã 大雅 chương Quyền A 卷阿 : “ Phượng hoàng minh hĩ, Vu bỉ cao cương. Ngô đồng sinh hĩ, Vu bỉ triêu dương 鳳皇鳴矣, 於彼高岡. 梧桐生矣, 於彼朝陽 ( Phượng hoàng kêu kià, Tại nơi gò cao. Ngô đồng mọc kìa, tại nơi nắng chói ) “. Trịnh Huyền 鄭玄 giải thích : “Phượng hoàng minh vu sơn tích chi thượng giả, cư cao thị hạ, quan khả tập chỉ, dụ hiền giả đãi lễ nãi hành, tường nhi hậu tập . Ngô đồng giả, do minh quân xuất dã . Sinh vu triêu dương giả, bị ôn nhân chi khí, diệc quân đức dã 鳳皇鳴於山 脊之上者, 居高視下, 觀可集止, 喻賢者待禮乃行, 翔而後集. 梧 桐者, 猶明君出也. 生於朝陽者, 被溫仁之氣, 亦君德也 ( Phượng hoàng kêu ở trên chóp núi, từ trên cao nhìn xuống, thấy có thể xuống đậu được, ý nói rằng kẻ hiền tài theo lễ mà hành động, lượn trước đậu sau. Ngô đồng là tượng trưng cho vua anh minh, mọc nơi ánh sáng chói lọi, có hơi ấm áp hiền hoà, cũng là đức tính của vị vua vậy ) “. Phạm thành Đại 範成大, 1126—1193 nhà thơ thời Nam Tống 南 宋 trong Lưu đức Tu thiếu khanh tị thử Huệ sơn nhân tiện kí tặng 劉德修 少卿避暑惠山因便寄贈 : “ Minh phượng triêu dương xích ngũ thiên, Thông thông hốt quá bạch âu biên 鳴鳳朝陽尺五天, 匆匆 忽過白鷗邊 ( Phượng kêu vang gần trời năm thước, Vội vàng vượt khỏi cò trắng bên ) “. Khổng bình Trọng 孔平仲 , ???- 1065- ???, nhà văn thời Bắc Tống 北 宋 trong Tục thế thuyết 續世說, chương Trực gián 直諫 : “ Tự Trử toại Lương , Hàn Viện chi tử, trung ngoại dĩ ngôn vi húy, kỉ nhị thập niên . Cập thiện cảm thủy gián , thiên hạ giai hỉ, vị chi minh phượng triêu dương 自褚遂良,韓瑗 之死, 中外以言為諱, 幾二十年. 及善感始諫, 天下皆 喜,謂 之鳴鳳朝陽 ( Từ khi Trử toại Lương, Hàn Viện qua đời, cả trong triều lẫn ngoài đều sợ không dám nói, kể đã tới hai mươi năm. Kịp tới khi có ý tốt đối với lời can, tất cả đều vui mừng, mà nói rằng chim phượng kêu nơi trời sáng chói ) “ . Lưu khắc Trang 劉剋莊, 1187 – 1269, nhà thơ thời Nam Tống 南 宋 trong Hoạ Hưng-hóa Triệu lệnh quân lương thị 和興化趙令君 良侍 , bài hai : “ Phù điện tuấn phiên thành bả miết, Minh dương phượng hóa tác hàn thiền 扶電駿翻成 跛鱉,鳴陽鳳化作寒蟬 ( Ngựa chớp nhoáng nay rùa bò hoá, Phượng véo von hoá thành ve câm ) “ *] , tránh việc dữ nên cuối cùng làm con chim hồng né cung [* tị dực 避弋 : né ná, tương đồng với kinh cung 驚弓 sợ cung . Theo Tấn thư 晉書 , quyển 71 : Vương Giám truyện 王鑒傳 : “ Độc vũ chi chúng dị động, kinh cung chi điểu nan an 黷武之眾易動, 驚弓之鳥難安 ( Bọn háu chiến dễ gây, Chim sợ cung khó tĩnh ) “ *]. Chúng ta đều là khách lưu lạc nơi phương trời, từ xưa đến nay, ra làm quan hay lui về ẩn, đều giống nhau cả!

Dịch vần :
Khi buồn , ” cha chả” viết trong không,
Trời đất mênh mang kiếp cỏ bồng.
Việc đời hoá nguội ra đầu bạc,
Mặt nhợt nên tươi cậy rượu nồng.
Mừng trời, thấy sáng mong theo phượng,
Tránh dữ, e cung lại hệt hồng.
Chân trời cùng kiếp thân lận đận,
Xuất xử lâu nay vốn rất thường!

2. Trong khi kháng chiến.
• Lê Lợi xem Bình Ngô sách, khen là phải dựa vào đấy để cùng Nguyễn Trãi vạch ra chiến lược, chiến thuật đánh quân Minh. Ngay sau khi xem Bình Ngô sách, Bình Định Vương Lê Lợi đã trao cho Nguyễn Trãi chức Tuyên Phụng đại phu Hàn lâm thừa chỉ và luôn luôn giữ ông ở bên mình để bàn mưu tính kế đánh quân Minh.
• Ngoài việc cùng Lê Lợi vạch ra chiến lược, chiến thuật, Nguyễn Trãi còn làm tất cả các công việc giao thiệp với quân Minh. Nhân danh nghĩa quân Lam Sơn, cụ thể là nhân danh Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã viết thư cho bọn chỉ huy quân Minh như Sơn Thọ, Phương Chinh, Thái Phúc, Vương Thông, v.v… để hoặc mắng nhiếc chúng, hoặc khiêu khích chúng, hoặc dụ hàng. Nguyễn Trãi đã làm công tác địch vận rất tài tình. Chính ông đã đích thân đến thành Tam Giang ( Việt Trì ) chiêu dụ quân Minh, tướng giữ thành là Lưu Thanh đã đem toàn quân đội ra hàng. Cũng chính Nguyễn Trãi đã viết thư chiêu dụ quân Minh ở Nghệ An, Thuận Hóa, Tây Đô, các thành này đều “không phải đánh mà giặc ra hàng cả” (Đại Việt sử ký toàn thư). Tướng Minh giữ thành Nghệ An là Đô Đốc Thái Phúc đã nghe lời khuyên của Nguyễn Trãi, mở cửa thành ra hàng.
• Nhận thấy chính nghĩa của quân Lam Sơn, Thái Phúc đã đến chân thành Tây Đô để chiêu dụ quân Minh ở đấy. Thái Phúc lại bày cho quân Lam Sơn phép chế tạo công cụ đánh thành Đông Quan nữa.
• Cuối năm Bính Ngọ (1426), quân Lam Sơn bắt đầu vây đánh Đông Quan. Lê Lợi đóng bản doanh trấn Bồ Đề (thuộc xã Phú Viên, huyện Gia Lâm). Tại đây ông cho làm một cái chòi cao ngang bằng tháp Báo Thiên ở Đông Quan để ngày ngày lên đấy mà quan sát quân địch (ở Đông Quan) và chỉ huy các cuộc hành quân của quân Lam Sơn. Lê Lợi ngồi trên tầng thứ nhất của cái chòi, Nguyễn Trãi ngồi ở tầng thứ hai. Hai người thường thường bàn mưu tính kế để đánh quân Minh.
• Tháng 10 năm 1427, Liễu Thăng bị giết ở gò Mã Yên. Tình thế bọn Vương Thông ở thành Đông Quan vốn đã khốn quẫn do đó lại càng thêm khốn quẫn. Thông cho người cầm thư đến bản doanh quân Lam Sơn (ở Bồ Đề) đề nghị giảng hòa. Các tướng khuyên Lê Lợi nên tiếp tục đánh thành để giết cho hết quân giặc. Nhưng ý kiến của Nguyễn Trãi thì lại khác. Do bắt được một bức thư bí mật bọc sáp của Vương Thông gửi về nước cho vua Minh Tuyên tôn, Nguyễn Trãi biết quân Minh ở vào một tình thế buộc chúng phải cầu hòa. Vì vậy ông đã khuyên Lê Lợi nên tìm cách dụ hàng hơn là dùng lực lượng quân đội đánh Vương Thông. Nghe lời Nguyễn Trãi, Lê Lợi một mặt sai nới vòng vây, một mặt sai Nguyễn Trãi viết thư cho Vương Thông khuyên Vương Thông sớm ra hàng. Kết quả là Vương Thông không đợi lệnh vua Minh, tự ý giảng hòa với quân Lam Sơn rồi kéo quân về nước ( theo Tiên sinh sự trạng khảo của Dương Bá Cung ).
• Có lẽ trong mười năm kháng chiến chống quân Minh này, Nguyễn Trãi không có thời gian làm thơ, nhưng số lượng về văn thư quân sự, ngoại giao trao đổi với quân địch, khiến cho người sau càng khâm phục văn tài của ông. Và tột đỉnh là bài Bình Ngô đại cáo.

3. Sau khi toàn thắng.
• Khi luận công hành thưởng, Nguyễn Trãi được ban quốc tính và phong tước Quan phục hầu. Về quan chức, ông giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ thượng thư quản công việc cơ mật viện. Chức vị của Nguyễn Trãi tuy lớn nhưng không đủ quan trọng để cho phép ông có thể thi thố tài kinh bang tế thế của ông. Đã thế nhiều việc làm của Lê Thái Tổ sau khi kháng chiến thắng lợi tỏ ra nhà vua nghi ngờ những nhân vật lỗi lạc đã cùng nhà vua lãnh đạo cuộc đấu tranh võ trang chống quân Minh. Năm Thuận Thiên thứ hai tức năm Kỷ Dậu (1429), nhà vua sai bắt Trần Nguyên Hãn phải nhảy xuống sông tự tử. Cuối năm Kỷ Dậu, nhà vua lại sai giết Thái úy Phạm Văn Xảo, một đệ nhất công thần khác, và tịch thu tất cả tài sản.
• Chính sử nhà Lê không chính thức nói đến việc Nguyễn Trãi bị Lê Thái Tổ bắt và hạ ngục. Nay chúng ta có đủ tài liệu để có thể tin rằng trong thời gian Trần Nguyên Hãn phải tự trầm và Phạm Văn Xảo bị giết, thì Nguyễn Trãi bị tống giam. Trong Tang thương ngẫu lục, Dương Bá Cung cho biết “Nguyễn Trãi từng có việc bị hạ ngục rồi lại bắt tha”. Trong thơ chữ Hán (của Nguyễn Trãi) có bài “Oán thán” nói về việc bị hạ ngục cho chúng ta biết rằng Nguyễn Trãi bị bắt khi ông năm mươi tuổi tức vào khoảng năm Thuận Thiên thứ hai (1429) – năm Lê Thái Tổ bắt Trần Nguyên Hãn và giết Phạm Văn Xảo. Bài thơ thứ 125 trong Quốc âm thi tập có câu:
Tội ai cho thấy nấy cam danh phận
Chớ có thân sơ mới trượng phu.
• Với những câu này, Nguyễn Trãi có ý muốn thanh minh rằng: ông là người thân của Trần Nguyên Hãn, nhưng tội của Trần Nguyên Hãn thì Nguyên Hãn chịu. Rất có thể là Nguyễn Trãi bị nghi ngờ là có liên quan đến Trần Nguyên Hãn, nên bị bắt , sau vì một lẽ nào đó lại được thả ra.
• Trong tờ biểu tạ ân khi ông được vua Lê Thái tôngtiến cử giữ chức Gián nghị đại phu kiêm Tri tam quán sự, Nguyễn Trãi có viết: “Nếu không được tiên đế ( Lê Thái Tổ ) xét rõ đáy lòng, thì hầu khiến tiểu thần ngậm cười ở nơi chín suối”.
• Như vậy rõ ràng là dưới thời Lê Thái Tổ có xảy ra việc Nguyễn Trãi bị bắt rồi lại được tha.Lê Thái Tổ tha Nguyễn Trãi, nhưng nhà vua vẫn không tin Nguyễn Trãi. Đó là lý do chủ yếu khiến cho suốt thời gian Lê Thái Tổ ở ngôi, Nguyễn Trãi không làm việc gì quan trọng cả. Bị vua nghi ngờ, ghét bỏ, nhưng ông vẫn phải làm quan. Xem Quốc âm thi tập, chúng ta có thể biết rằng Nguyễn Trãi chỉ sống ở Thăng Long một thời gian rồi ông lại về Côn-sơn để vui với cỏ cây.
• Trong Quốc âm thi tập, bài Chín bài Trần tình, bài thứ 4 :
Ngoài năm mươi tuổi ngoài chưng thế
Ắt đã tròn bằng nước ở bầu.
• Trong Toàn Việt thi lục, Lê Quý Đôn có viết rằng: “Thái tông lên ngôi thì do cố mệnh của Thái Tổ mà Nguyễn Trãi phụ chính”. Câu này làm cho chúng ta nghĩ rằng trước khi chết, Lê Thái Tổ đã nhìn thấy lầm lỗi của mình, và đã dặn Thái tử Nguyên Long (Thái Tôn) phải đặt Nguyễn Trãi lên một chức vị xứng đáng. Lê Thái tông đã làm đúng như lời cha dặn. Vì vậy, thời Lê Thái tông ở ngôi là thời Nguyễn Trãi đắc chí nhất, được trọng dụng nhất.
• Suốt trong thời gian làm quan dưới triều Lê Thái Tổ cũng như dưới triều Lê Thái Tông, lúc nào Nguyễn Trãi cũng sống một cuộc đời giản dị, cần kiệm liêm chính. Không những thơ văn của Nguyễn Trãi cho ta biết như thế, mà các nho sĩ sống cùng thời với ông như Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tán, v.v… cũng cho biết như thế.
• Tháng 5 năm Giáp Dần (1434) đời vua Lê Thánh Tông, triều đình sai Tuyên phủ sứ Nguyễn Trụ và Hoàng môn thị lang Thái Quân Thực đem biểu văn và sản vật Việt Nam sang nhà Minh cầu phong. Biểu văn do Nguyễn Trãi soạn.
• Xem biểu văn, viên Nội mật viện Nguyễn Thúc Huệ và viên học sĩ Lê Cảnh Xước muốn đổi vài chữ. Nguyễn Trãi nổi giận mắng vào mặt chúng rằng: “ – Đổi với chác gì? Hai ông giỏi sao không viết thay tôi? Hiện nay trong nước đương hạn hán, mà sở dĩ có tai nạn ấy, chính là tự lũ các ông. Các ông chỉ là đồ thích sưu cao thuế nặng, vơ vét của dân cho nhiều, nên trời mới giáng tai tỏ ý trừng phạt. “. Nguyễn Thúc Huệ đem câu nói này mách với Lê Sát và Lê Vấn là những nhân vật đang nắm giữ chức quyền lúc bấy giờ. Lê Vấn giận lắm, nói với Nguyễn Trãi rằng: “ – Gây ra tai nạn không phải là lỗi tại bọn ty thuộc, mà chính bởi vua và tướng, sao ông quở trách nặng lời như vậy? “. Nguyễn Trãi trả lời:: “ – Thúc Huệ là kẻ tài thì rất thông thường, mà lại hay có thói bòn vét, hẳn ở địa vị then chốt, mỗi khi có việc tâu bày chỉ thấy bàn sự đục khoét của dân cho nặng để làm giàu cho công khố cốt làm vui lòng quân thượng.”. Cũng năm 1434, có bảy tên tội tái phạm đáng tội tử hình. Lê Sát và Lê Ngân phân vân không biết xử trí ra sao. Vua Thái tông hỏi Nguyễn Trãi, thì ông nói: “ – Hình phạt không bằng nhân nghĩa là rõ ràng rồi. Bây giờ một lúc giết bảy mạng người e không phải việc có đức cao. Kinh thư có nói: “An như chi” nghĩa là phải làm cho được đúng chỗ. Thí dụ như trong cung là đúng chỗ của Bệ hạ, thỉnh thoảng có đi tuần du chỗ khác, thì không thường được thoải mái, đến khi trở về cung mới thật đúng chỗ, ông vua đối với nhân nghĩa cũng vậy.Lê Sát nói với Nguyễn Trãi: “ – Ông là người nhân nghĩa có thể cảm hóa kẻ ác trở nên người thiện, thì đây xin giao bọn cướp cho ông. “ Nguyễn Trãi nói: “ – Bọn chúng là đồ hung ác, gian giảo, pháp luật và chế độ của triều đình không răn chữa được chúng, nữa là Trãi này có đức độ gì mà cảm hóa nổi.” Cuối cùng triều đình vẫn nghe lời Nguyễn Trãi, chỉ đem chém hai đứa cầm đầu, còn năm tên khác thì chỉ khép vào tội lưu mà thôi.
• Tháng giêng năm Đinh Tỵ (1437), niên hiệu Thiệu Bình thứ tư, vua Thái tông sai Nguyễn Trãi và hoạn quan là Lương Đăng trông nom việc làm xe loan và thẩm định nhã nhạc. Nhân dịp này Nguyễn Trãi đã nói với Thái tông như sau: “ – Thời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn: Ngày nay định ra lễ nhạc chính là phải thời lắm. Song không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần vâng theo chiếu chỉ thẩm định nhã nhạc, không dám không hết lòng. Song học vấn sơ sài, nông cạn sơ trong áng thanh luật khó làm cho được hài hòa. Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăm nuôi muôn dân khiến cho trong thôn cùng xóm vắng, không có một tiếng hờn giận oán sầu. Đó tức là giữ được cái gốc của nhạc. “ Vua Thái tông khen và chấp nhận lời tâu của Nguyễn Trãi ( Việt sử thông giám cương mục tập IX, trang 60-91).
• Tháng 11 năm Đinh Tỵ (1437), Lương Đăng dâng kiến nghị về các mục nghi thức của các buổi lễ coi chầu hoặc yến tiệc trong những ngày sinh nhật nhà vua hay Tết Nguyên đán, v.v… Nguyễn Trãi cùng với bọn Nguyễn Truyền, Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến và Nguyễn Liễu tâu rằng: “ – Lễ nhạc là cốt ở ngoài mới đặt ra được. Phải là bậc tài thức như Chu Công rồi sau mới không thể chê trách được việc đặt lễ tế nhạc. Nay nhà vua để cho hạng bầy tôi hèn mọn ở trong cung chuyên việc xếp đặt lễ nhạc, như vậy chẳng tủi nhục cho nước nhà lắm sao? Vả lại việc làm của Đăng đều là dối vua lừa dưới không căn cứ vào đâu cả… Lương Đăng là tên bầy tôi hèn mọn ra vào nơi cung cấm, hầu hạ ở bên vua, như vậy chúng tôi trộm lấy làm ngờ lắm. “ Lương Đăng tâu: “ – Thần là kẻ vô học, không biết chế độ thời xưa ra sao. Những việc bây giờ làm đó chỉ là biết thế nào làm thế ấy mà thôi. “ Nguyễn Liễu tâu: “ – Từ xưa đến nay chưa có bao giờ hoạn quan lại tự chuyên làm nát thiên hạ như vậy. “. Bỗng một tên quan là Đinh Thắng từ trong nội đi ra, mắng lớn lên rằng: “ – Hoạn quan làm gì mà nát thiên hạ? Nếu nát thiên hạ thì phải chém đầu mày! “ Vua Thái tông liền giao Nguyễn Liễu cho hình quan xét xử. Kết quả Liễu bị kết tội chém đầu. Nhưng vua hạ chiếu giáng xuống tội thích chữ vào mặt và đày đi nơi xa.
• Sau việc này, hình như Nguyễn Trãi buồn lắm, nên ông xin về Côn-sơn hưu trí vào khoảng cuối năm 1437 hay đầu năm 1438 gì đó. Nhưng đến năm 1439, vua Thái tông lại xuống chiếu vời ông ra giữ chức cũ kiêm Trung thư sảnh tri tam quân sự, và coi cả việc quân và dân ở hai đạo Đông Bắc.
• Tháng 3 năm Nhâm Tuất (1442), Nguyễn Trãi với danh nghĩa là Hàn lâm viện thừa chỉ kiêm Quốc Tử Giám ra chủ trì kỳ thi tiến sĩ và đã lấy Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên.Những năm làm quan dưới triều Lê Thái Tông, nhất là từ năm 1439 trở về sau, Nguyễn Trãi sống những ngày tương đối hả hê, thoải mái. Hồi này vua Thái tông đã mười bảy mười tám tuổi. Vị vua trẻ tuổi này bắt đầu nhìn thấy sự thật của cuộc đời. Nhà vua đã nắm lấy quyền hành và thẳng tay trừng trị bọn quyền thần: cách chức Tể tướng Lê Sát, giết Đăng Đắc, giáng chức bọn chân tay của Lê Sát và Lê Văn Vinh, Lê Hi, và cuối cùng giết cả Lê Sát và Lê Ngân. Đọc những câu thơ sau đây trong tờ biểu tạ ân sẽ thấy rõ sự hả hê của Nguyễn Trãi: “ Thương thần như ngựa đến tuổi già, còn kham rong ruổi, Cho thần như thông quan năm rét, còn rạn tuyết sương Quần ngôn mặc kệ dèm pha: Thánh ý cứ bền tín nhiệm. Khiến cho suy nát trở lại quanh hoa Chức giữ Đông dài thực việc triều đình rất trọng. Việc kiêm tan quán ấy điều nho giả cực vinh. Huống ban quốc tính để rạng tông môn, Lại với công thần xếp cùng hàng liệt. Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lòng. “ Tuy Nguyễn Trãi trở lại nhận chức vị của triều đình, nhưng Lê Thái tôngvẫn cho ông được ở Côn-sơn để làm việc, nhất là để chỉ huy công việc ở hai đạo Đông Bắc. Do đó, hằng ngày Nguyễn Trãi vẫn ở Côn-sơn, thỉnh thoảng ông mới về triều.

Côn-sơn ca.
崑山歌
Côn-sơn hữu tuyền,
崑 山 有 泉,
Kì thanh lãnh lãnh nhiên,
其 聲 冷 冷 然,
Ngô dĩ vi cầm huyền.
吾 以 為 琴 弦。
Côn-sơn hữu thạch,
崑 山 有 石,
Vũ tẩy đài phô bích,
雨 洗 苔 鋪 碧,
Ngô dĩ vi điệm tịch.
吾 以 為 簞 席。
Nham trung hữu tùng,
岩 中 有 松,
Vạn lí thúy đồng đồng,
萬 里 翠 童 童,
Ngô ư thị hồ yển tức kì trung.
吾 於 是 乎 偃 息 其 中。
Lâm trung hữu trúc,
林 中 有 竹,
Thiên mẫu ấn hàn lục,
千 畝 印 寒 綠,
Ngô ư thị hồ ngâm khiếu kì trắc.
吾 於 是 乎 吟 嘯 其 側。
Vấn quân hồ bất qui khứ lai,
問 君 胡 不 歸 去 來,
Bán sinh trần thổ trường giao cốc.
半 生 塵 土 長 膠 梏。
Vạn chung cửu đỉnh hà tất nhiên,
萬 鐘 九 鼎 何 必 然,
Ẩm thủy phạn sơ tùy phận túc.
飲 水 飯 蔬 隨 分 足。
Quân bất kiến :
君 不 見:
Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ,
董 卓 黃 金 盈 一 塢,
Nguyên Tải hồ tiêu bát bách hộc.
元 載 胡 椒 八 百 斛。
Hựu bất kiến:
又 不 見:
Bá Di dữ Thúc Tề,
伯 夷 與 叔 齊,
Thủ Dương ngạ tử bất thực túc.
首 陽 餓 死 不 食 粟?
Hiền ngu lưỡng giả bất tương mâu,
賢 愚 兩 不 相 侔,
Diệc các tự cầu kì sở dục.
亦 各 自 求 其 所 欲。
Nhân sinh bách tuế nội,
人 生 百 歲 內,
Tất cánh đồng thảo mộc.
畢 竟 同 草 木。
Hoan bi ưu lạc điệt vãng lai,
歡 悲 憂 樂 迭 往 來,
Nhất vinh nhất tạ hoàn tương tục.
一 榮 一 謝 還 相 續。
Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên,
丘 山 華 屋 亦 偶 然,
Tử hậu thùy vinh cánh thùy nhục.
死 後 誰 榮 更 誰 辱。
Nhân gian nhược hữu Sào Do đồ,
人 間 箬 有 巢 由 徒,
Khuyến cừ thính ngã sơn trung khúc.
勸 渠 聽 我 山 中 曲。

Giải xuôi : Bài ca về cảnh Côn -sơn.
Côn-sơn có suối; tiếng suối reo trong trẻo làm sao; ta coi nó như tiếng đàn vậy. Côn-sơn có đá; mưa thấm nhuần khiến rêu nẩy màu xanh biếc; ta lấy đó làm chiếu nằm. Trong khe có thông; vạn dặm màu xanh bát ngát; ta nhân đó mà nằm nghỉ ngơi dưới bóng. Trong rừng có trúc; ngàn mẫu nổi màu xanh rờn; ta nhân đó mà hát nghêu ngao ở dưới gốc. Ta hỏi mi sao chẳng chịu đi về cho rồi; đã nửa đời chìm trong cảnh bụi bậm mà cứ còn bon chen hoài. Vạn chuông, chín vạc [* sống trong cảnh giàu sang, thành ngữ Trung quốc ‘ chung minh đỉnh thực 鍾鳴鼎食 ‘ : nhà nhiều khách khứa khi ăn phải đánh chuông báo hiệu, và nấu bằng những vạc lớn. Chung 鍾 : một loại nhạc khí thời cổ và đỉnh 鼎 nồi lớn nấu cơm cho nhiều người ăn. Tới bữa, đánh chuông và nồi bày la liệt. Cụm từ xuất phát từ Sử kí 史記 của Tư mã Thiên, chương Hoá thực liệt truyện 貨殖列傳:” Sái tước, bạc kĩ dã , nhi Chất thị đỉnh thực. Mã y thiển phương, trương lí kích chung 灑削, 薄技也, 而郅氏鼎食. 馬醫淺方, 張裏擊鍾 ( Đã không có tài mài dao mà anh chàng họ Chất lại đãi ăn bằng đỉnh , Không biết cách xử sự khi gặp cảnh khó khăn , mà trong nhà lại khua chuông) “. Đời Đường 唐, Vương Bột 王勃 , trong bài “ Đằng vương các tự 滕王閣序” có viết : ” Lư diêm phác địa, chung minh đỉnh thực chi gia 闾閻撲地, 鍾鳴鼎食之家 *] có ra cái gì đâu; uống nước lã, ăn rau, cứ theo phận mình là đầy đủ rồi. Mi lại không thấy sao : Đổng Trác [* Đổng Trác 董卓, tên người, ?? – 192 tự là Trọng Dĩnh 仲穎, người tời Hán 漢 vùng Lâm-thao 臨洮 ( nay là huyện Mân 岷縣 tỉnh Cam-túc 甘肅省 ) . Đời vua Tuyên đế 桓帝 , giữ chức vũ lâm lang 羽林郎, sang đời vua Linh đế 靈帝 nắm chức tiền tướng quân 前將軍. Khi Linh đế qua đời mang quân về kinh sư, giết bọn hoạn quan, bỏ vua Thiếu đế 少帝, lập vua Hiến đế 獻帝, giết thái hậu , tự đảm nhiệm chức thái sư , dâm loạn hung bạo . Phe đảng Viên Thiệu 袁紹 nhân đó khởi binh thảo phạt Đổng Trác, nhưng sau đó y bị Lữ Bố 呂布 giết chết. *] có vàng chất đầy kho; Nguyên Tải [* Nguyên Tải 元載 , tên người , ?- 777 , tự là Công Phụ 公輔 , người vùng Kì-sơn 岐山, Phượng- tường 鳳翔 ( nay là Kì sơn, Thiểm tây 陝西 ) . Thời nhỏ gia đình nghèo khổ . Đời vua Túc tông làm quan tới chức thị lang bộ hộ , chức độ chi sứ 度支使 kiêm chư đạo chuyển vận sứ 諸道轉運使 coi về tổng ngân khố nhà nước. Sau này câu kết cùng hoạn quan Lí phụ Quốc 李輔國, được thăng giữ chức tể tướng 宰相. Khi Đại tông 代宗 lên ngôi, y vẫn còn được làm tể tướng . Hắn thâm thụt ngân quỹ , dùng tiền mua chuộc hoạn quan Đổng Tú 董秀, nên càng được Đại Tông tin dùng. Hắn càng lộng hành, nhưng cuối cùng vào năm Đại lịch thứ mười ( 777 ) bị nhà vua ra lệnh giết. *] có đến tám trăm thùng hồ tiêu [* Khi kiểm tra tài sản nhà Nguyên Tải ngoài vàng bạc châu báu , còn có đến tám trăm thùng hồ tiêu ( Hồ tiêu sao xuất bát bách thạch胡椒抄出八百 石 ) *]. Mi cũng chẳng thấy : Bá Di với Thúc Tề [* Bá Di 伯夷 : vào cuối đời nhà Thương 商, là con của vua nước Cô Trúc 孤竹 cùng với em là Thúc Tề 叔齊 đã phản đối nhà Chu vì đã không ngăn cản được vua nhà Chu là Chu vũ Vương 周武王 diệt nhà Thương. Hai ông đã bỏ vào núi Thủ-dương hái rau vi mà sống, không chịu ăn thóc nhà Chu cho đến chết *] ; không chịu ăn thóc [* của nhà Chu *] đã thà chết đói nơi núi Thủ-dương [* Thủ dương 首陽 : tên núi, còn có tên là Lôi thủ sơn 雷首山, tương truyền là nơi Bá Di, Thúc Tề náu ẩn hái rau vi mà sống. Trong Thi Kinh 詩經, phần Quốc phong 國風 chương Đường phong 唐風, chương Thái linh 採苓 : “Thái linh thái linh, Thủ dương chi điên 採苓採苓, 首陽 之巔 ( Hái rau, hái rau, Trên đỉnh Thủ-dương ) “.” Họ Mao 毛 chú : ’ Thủ dương , sơn danh dã 首陽, 山名也 ‘ Theo Mao thi chính nghĩa 毛詩正義, chương Đường phổ 唐譜 thì “ Đường 唐 là tên nước mà vua Chu thành Vương 周成王 phong cho người em Nghiêu 虞, con ông này là Tiếp 燮 đối tên nước thành Tấn 晉, là dải đất chạy dọc sông Phần 汾水 vùng Thái-nguyên 太原 thuộc tỉnh Sơn-tây ngày nay . Vậy toàn thể chương “ Đường phong ” trong Kinh Thi là những bài dân ca mô tả sinh hoạt của vùng này. Chu Hi 朱熹 , người đời Tống, khi chú giải Kinh Thi, có nói :” Kì thi bất vị chi Tấn nhi vị chi Đường , cái nhưng kì thủy phong chi cựu hiệu nhĩ 其詩不謂之晉 而謂之唐,蓋仍其始封之舊號耳 ( Những bài thơ này không gọi là phong tục vùng Tấn mà gọi là phong tục vùng Đường chỉ vì rằng muốn tôn trọng cái tên được phong tặng trước kia ) “ *]. Người hiền với kẻ ngu, dù không giống nhau; nhưng họ đã cùng đạt được cái mình muốn. Trong đời người dài trăm năm; cuối cùng cũng như cây cỏ thôi. Vui, mừng, sướng khổ cứ đổi thay nhau; lúc tươi khi héo cứ tuần tự thay nhau. [* Dù là khi chết *] Gò núi [* sơn khâu 山丘, chỉ phần mộ 墳墓 , mồ mả khi chết. Giang Yêm 江淹 ,444 – 505, nhà thơ nước Lương 梁 , thời Nam Bắc triều 南北朝, trong Hoài cựu thi thương Vương Kham 懷舊詩 傷王諶 :“Hoan yến vị chung tất, Linh lạc ủy sơn khâu 歡宴未終畢, 零落委山丘 ( Tiệc vui chưa chấm dứt, Lạnh lẽo vùi dưới mồ. ) “ *] hay [* khi còn sống *] nhà đẹp [* Hoa ốc 華屋 : căn nhà lộng lẫy lúc sống. Tào Thực 曹植 , 192 – 232, nhà thơ nước Ngụy 魏 thời Tam quốc 三國 trong Không hầu dẫn 箜篌引 :” Thịnh thì bất khả tái, Bách niên hốt ngã tù. Sinh tồn hoa ốc xứ, linh lạc qui sơn khâu 盛時不可再,百年忽我遒; 生在華 屋處,零落 歸山丘 ‘ ( Lúc vui không có mãi, Trăm năm cứ qua vù. Lúc sống ở nhà đẹp, chết rồi về núi gò )*] đó cũng là do ngẫu nhiên; sau khi chết rồi có còn ai vinh với ai nhục. Đời nay nếu có người nào giống như Sào, Do [* Sào Do 巢由 : nói gom tên hai người Sào Phủ 巢父 và Hứa Do 許由, hai vị cao sĩ thời vua Nghiêu, Trung quốc, không muốn nghe nói đến lợi, danh, ở ẩn trong núi rừng . Hứa Do tự là Vũ Trọng 武仲, vua Nghiêu nghe nói ông ta là người hiền , bèn đem đất nước mà trao cho ông, ông bèn lánh vào trong rừng, mạn bắc sông Dĩnh , dưới núi Kì ( Dĩnh thủy chi dương, Kì sơn chi hạ 潁水之陽,箕山之下 ) . Sào Phủ dữ Hứa Do : khi vua Nghiêu ngỏ ý nhường thiên hạ , Hứa Do đã bỏ vào rừng rồi, mà vua Nghiêu còn tiếp tục mời ông làm chủ chín châu ( Cửu châu 九州: chỉ lãnh thổ Trung Hoa thời cổ ), Hứa Do xuống suối rửa tai. Ngay khi đó có Sào Phủ 巢父 đang cho trâu uống nước, thấy cảnh Hứa Do rửa tai, hỏi nguyên nhân. Đáp rằng “ Vua Nghiêu muốn tôi ra làm chủ chín châu, ghét nghe câu đó, nên xuống suối rửa tai ( Nghiêu dục triệu ngã vi cửu châu trường, ố văn kì thanh, thị cố tẩy nhĩ 堯欲召我為九州長, 惡聞其聲, 是故洗耳 ). Sào Phủ nghe thế nói rằng :” Ông đã ở trong vùng núi cao hang sâu , người đi không tới, Ai là kẻ có thể gặp được ông. Lòng ông vẫn còn ham cảnh phù du , muốn được người nghe nói đến tên mình , tôi sợ nước rửa tai của ông làm bẩn miệng con trâu của tôi.( Tử nhược xử cao ngạn thâm cốc, nhân đạo bất thông , thùy năng kiến tử ? tử cố phù du , dục văn cầu kì danh dự. ô ngô độc khẩu 子若處高岸深谷, 人道不通, 誰能見子?子故浮游, 欲聞求其 名譽. 污吾 犢口 )’. Nói xong Sào Phủ giắt trâu lên đầu nguồn cho trâu uống nước. *], Thì xin mời lắng nghe ta hát bài ca trong núi.
Dịch vần :
A.
Côn-sơn suối mát,
Tiếng nước rơi róc rách,
Ta coi là đàn hát.
Côn-sơn đá phẳng,
Mưa tưới rêu mượt bóng,
Ta lấy làm chiếu chõng.
Trong khe có thông,
Vạn dặm xanh một vùng,
Ta nương bóng nghỉ ngơi thật thong dong.
Trong rừng có trúc,
Ngàn mẫu in màu lục,
Ta nhờ đó mà nghêu ngao dưới gốc.
Hỏi ngươi sao chẳng về cho rồi,
Nửa đời bụi bám, còn lăn lóc.
Vạn chuông, chín vạc có ra gì,
Nước lã, cơm rau, đủ tùy lúc.
Ngươi chẳng thấy :
Đổng Trác, vàng bạc đầy một kho,
Nguyên Tải, hồ tiêu tám trăm hộc.
Lại chẳng thấy :
Bá Di với Thúc Tề,
Thủ Dương đói chết, không ăn thóc.
Hiền, ngu hai cái tuy khác nhau,
Nhưng cái mình ước đều đạt được.
Trăm năm, một đời người,
Như cây cỏ, rốt cuộc.
Vui buồn, lo sướng cứ thay phiên,
Khi tươi, lúc héo thường liên tục.
Gò núi, lầu hoa do ngẫu nhiên,
Chết rồi còn có ai vinh, nhục.
Đời nay bạn Sào, Hứa nếu còn,
Hãy vào núi nghe ta ca khúc.

B.
Côn-sơn có suối trong veo,
Thác nước đổ xuống tiếng reo rầm rầm.
Ta coi đó là đàn cầm,
Côn-sơn có đá như bàn phẳng phiu.
Mưa rơi thấm ướt nẩy rêu,
Chiếu êm thảm mượt là điều ta mong.
Trong núi có mọc đầy thông,
Muôn dặm xanh biếc một vùng mênh mông.
Tha hồ ta nghỉ ở trong,
Lại thêm trúc mọc đầy rừng xanh tươi.
Ngàn mẫu in sắc lạnh người,
Thảnh thơi bên gốc ta thời ngâm nga.
Còn ngươi sao chẳng về cho,
Nửa đời cát bụi vẫn lò dò đi.
Muôn chung ngàn đỉnh ra gì,
Cơm rau nước lã miễn khi đủ dùng.
Ngươi chẳng thấy :
Đổng Trác vàng bạc đầy vung,
Nguyên Tải, có tám trăm thùng hồ tiêu.
Lại chẳng thấy :
Bá Di, Thúc Tề rủ nhau
Thủ-dương đói chết, chẳng cầu thóc Chu .
Hiền ngu có khác gì đâu,
Nhưng cùng thoả mãn điều cầu đấy thôi.
Trăm năm là cõi con người,
Cuối cùng tàn rũ như đời cỏ cây.
Vui buồn, sướng khổ luôn thay,
Khi tươi, khi héo kéo bày theo nhau.
Ngẫu nhiên : gò núi, lầu cao,
Chết rồi vinh nhục ai nào biết cho.
Đời nay còn có Sào, Do,
Xin mời vào núi nghe ta hát hò.

Vụ án vườn Lệ-chi

• Mọi việc đang diễn ra tốt đẹp, thì đánh đùng một cái, vụ án Lệ Chi viên xảy ra như một tiếng sét làm tan nát cuộc đời Nguyễn Trãi và gia tộc ông.Đầu đuôi vụ án như sau:

• Ngày 27 tháng 7 năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ ba tức ngày mồng 1 tháng 9 năm 1442, vua Lê Thái tông đến Côn-sơn thăm Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi có một người vợ lẽ yêu là Nguyễn Thị Lộ vừa đẹp vừa hay chữ. Thị Lộ từng được vua Thái tông vời vào triều phong cho chức Lễ nghi học sĩ giữ công việc dạy dỗ cung nhân. Khi Lê Thái Tông đến Côn-sơn thì Thị Lộ đã về đấy thăm Nguyễn Trãi từ trước. Lúc nhà vua rời Côn-sơn thì Thị Lộ được lệnh theo nhà vua về Thăng Long. Ngày mồng 4 tháng 6 năm Nhâm Tuất tức ngày mồng 7 tháng 9 năm 1442, xa giá vua Thái Tông về đến Lệ Chi viên tục gọi là Trại Vải ở làng Đạo Lai, huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh (nay là huyện Gia Lương). Nửa đêm hôm ấy, nhà vua bị cảm, và đến sáng thì mất. Các quan hộ giá giữ kín tin, và đến ngày mồng 6 tháng 8 mới rước linh cữu vua về Thăng Long, Thị Lộ cũng bị bắt. Thị Lộ cũng như Nguyễn Trãi bị buộc tội là âm mưu với nhau giết vua. Tại sao triều đình nhà Lê lại khoác vào cổ Nguyễn Trãi, người đã dày công chiến đấu gian khổ để dựng ra nó, cái tội tày đình như thế?
• Lê Thái tông có 5 vợ. Trong số năm người vợ này có Nguyễn Thị Anh và Ngô Thị Ngọc Dao. Nguyễn Thị Anh sinh ra Bang Cơ được phong làm thái tử. Nguyễn Thị Anh biết bà phi Ngô Thị Ngọc Dao đang có mang và nằm chiêm bao thấy Ngọc Hoàng thượng đế sai một vị tiên đồng đầu thai vào bà Ngọc Dao. Thị Anh sợ rằng khi bà Ngọc Dao sinh hạ quý tử, thì cái ngôi thái tử của Bang Cơ sẽ không còn nữa. Thị Anh bèn tìm đủ cách để hãm hại bà Ngô Thị Ngọc Dao. Thị Anh đã từng vu cho bà Ngọc Dao có dính líu vào vụ làm bùa của bà Huệ phi và có ý làm hại thái tử. Chính Thị Anh đã xui Thái tông khép bà Ngọc Dao vào tội voi giày.
• Nguyễn Trãi đã tìm cách cứu bà Ngọc Dao. Ông bảo Thị Lộ khuyên vua Thái tông không nên nghe lời xúc xiểm mà làm một việc thất đức. Nghe lời Thị Lộ, vua Thái tông đã cho phép đưa bà Ngô Thị Ngọc Dao giấu ở chùa Huy Văn. Ở đây vài tháng sau, bà Ngọc Dao đã sinh ra một người con trai đặt tên là Tư Thành (vua Thánh Tông sau này). Để tránh sự mưu hại của Nguyễn Thị Anh, Nguyễn Trãi đưa hai mẹ con bà Ngọc Dao ra An Bang (Quảng Ninh ngày nay). Những việc này cuối cùng đến tai Nguyễn Thị Anh. Từ đấy Thị Anh đâm thù Nguyễn Trãi và Thị Lộ. Thị đang chờ cơ hội để trả thù, thì xảy ra vụ Thái tông đột nhiên chết ở Lệ Chi viên. Thế là bà nắm ngay lấy việc này để trả thù. Bà lại càng dễ trả thù, sau khi Bang Cơ, mới hai tuổi, được lên ngôi vua và bà được ra thính chính. Bọn gian thần cũng căm thù Nguyễn Trãi, chúng vẫn coi Nguyễn Trãi là cái gai ở triều đình. Khi xảy ra vụ án Lệ Chi viên, chúng liền vào hùa với nhau để cùng với Thị Anh hãm hại Nguyễn Trãi và gia tộc ông.
• Như trên đã nói, sau khi đưa linh cữu Thái tông về Thăng Long, Nguyễn Thị Lộ bị bắt, và sau đó Nguyễn Trãi cũng bị bắt. Nguyễn Thị Lộ bị tra tấn cực kỳ dã man. Khi mang Thị Lộ ra thẩm vấn, trước sau hình quan chỉ hỏi Thị Lộ có một câu: – Có phải mày đã tiến độc cho đức Đại Hành Hoàng đế, và cáo mưu thị nghịch là do Nguyễn Trãi không? Do bị tra tấn quá tàn nhẫn, Thị Lộ đành phải nhận tất cả các tội lỗi mà bọn hình quan đã bày đặt ra theo một lệnh không biết từ đâu. Thế rồi cả gia quyến Nguyễn Trãi bị bắt giam: con gái bị sung làm nô tỳ ở cung vua hay ở các nhà quan, con trai thì chờ ngày ra pháp trường chịu tội tử hình.
• Vào cái ngày đau xót không những cho Nguyễn Trãi mà còn cho cả dân tộc nữa, là ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất tức ngày 19 tháng 9 năm 1442: Nguyễn Trãi và gia tộc đã rụng đầu dưới lưỡi dao oan nghiệt của cái triều đình hèn hạ và ngu muội mà chính ông đã chiến đấu gian khổ để dựng nên.
• Hai mươi hai năm sau, vào năm Quang Thuận thứ 5 tức năm 1464, nhìn thấy nỗi oan uổng của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông mới xuống chiếu tẩy oan cho ông. Nguyễn Trãi được vua Lê Thánh Tông truy phong chức Đặc tiến kim tử Vinh Lộc đại phu trước Tán trù bá và cho một người con duy nhất trốn , thoát nạn tru di là Nguyễn Anh Vũ làm tri huyện. Nhà vua lại cấp cho gia đình họ Nguyễn một trăm mẫu ruộng để dùng vào việc thờ cúng. Và vua Lê thánh Tông đã ca ngợi tấm lòng trong sáng của Nguyễn Trãi :

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo.
抑 齋 心 上 光 奎 早
( Ức Trai lòng sáng tựa sao Khuê )

Lê Thánh Tông

Phạm Doanh

Góp ý xin l/l Phamdoanh1999@gmail.com

( Trích đoạn trong Nguyễn phi Khanh  & Nguyễn Trãi : Hai đời chung một luồng thơ Chữ , sắp xuất bản).


Tư liệu tham khảo :

1. Văn Tân et als ( Eds ) : Nguyễn Trãi Toàn Tập , Nhà xuất bản Khoa-học Xã-hội, Hà-nội 1969 , 798 pps.
2 Lê cao Phan (Trans. ) : Ức Trai thi tập , Nhà xuất bản Văn-học, 2000, 447 pps.
.3 Phan sĩ Tấn et als ̣( Eds ): Thơ văn Nguyễn Trãi , Nhà xuất bản Giáo-dục 1980, 256 pps.
4 Hoàng công Khanh : Vằng vặc sao Khuê, Nhà xuất bản Văn-học, Hà-nội , 1998 779 pps

Lịch Sử Ngày Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ July 4 – U.S. Independence Day

William Hoàng

Cộng đồng Việt Nam tham dự Diễn Hành Lễ Độc Lập Hoa Kỳ tại Washington D.C.

Trong khoảng 10 năm kể từ 1775, mười ba tiểu bang đầu tiên ở Bắc Mỹ Châu đã kết hợp với nhau tiến hành một cuộc chiến chống Mẫu Quốc Anh để thành lập một quốc gia mới, trẻ trung, và lấy tên là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (The United States Of America).

Hàng năm, cứ đến Ngày 4 Tháng 7, Hoa Kỳ cử hành Lễ Ðộc Lập của Hoa Kỳ tức Independence Day để nhớ lại rằng sau nhiều năm thương thảo chỉ gặp những áp chế càng ngày càng khắc nghiệt hơn, Quốc Hội Lục Ðịa cuối cùng đã vùng lên đồng thanh chấp thuận đưa ra Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập(Declaration of Independence) vào ngày 4 Tháng 7, 1776, hai ngày sau khi đại biểu các tiểu bang biểu quyết dứt khoát đoạn tuyệt với Mẫu Quốc. 

 Vào ngày tuyên ngôn này, Hoa Kỳ chưa chuẩn bị để có lá quốc kỳ và bài quốc ca mới.  Bài ca hồi đó là “Hail, Columbia”, lá cờ là Grand Union Flag có 13 sọc cùng hình lá cờ Anh ở góc trái, và chưa có ngôi sao nào.  Cho tới ngày 14 tháng 7 năm 1777 Quốc Hội II Lục Ðịa Mỹ Châu mới ra nghị quyết nhìn nhận lá cờ hình chữ nhật có 13 sọc trắng và đỏ với 13 ngôi sao kết thành một vòng tròn trên nền xanh dương.  
 *
Cuộc Chiến Cách Mạng Mỹ Châu (CCCMMC) và Tuyên Ngôn Ðộc Lập
Nguyên nhân và những yếu tố đưa cuộc cách mạng đến thành công
 Cuộc Chiến Cách mạng Mỹ Châu năm 1775 không kéo dài và ít đổ máu nhưng sự thành công của Cuộc Chiến Cách Mạng đó cùng với Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập đã có một ý nghĩa hết sức quan trọng không riêng chỉ đối với Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ mà còn đối với cả thế giới năm châu: sự thành công đó tạo một niềm hứng khởi say mê cho những con người vốn khao khát Tự Do của thời đại Bừng Sáng (Enlightenment) và là nguồn hy vọng tuyệt vời của những con người bị  áp chế muốn vùng dậy đòi lại quyền làm người.
 
Tình hình Châu Mỹ La Tinh trước CCCMMC bùng nổ
 Nhờ Christopher Columbus tình cờ khám phá ra Châu Mỹ trong những năm 1490, dân Âu Châu đổ xô đến đây để tìm vàng và lập nghiệp.  Có hai sự kiện lịch sử:
    (1) Jamestown ở Ðông Nam Virginia là ngôi làng đầu tiên của một số dân thuộc địa (colonist) người Anh ở Bắc Mỹ định cư vĩnh viễn vào năm 1607,
    (2) Plymouth ở Ðông Nam Massachusetts là nơi những vị Tiền Bối Tị Nạn Tôn Giáo – the Pilgrim Fathers – đổ bộ từ con Tầu Mayflower vào năm 1620. 
 Từ đó, các nước cường thịnh ở Âu Châu như Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Bồ Ðào Nha, v.v. đã dần dần thiết lập các thuộc địa trên khắp dải đất rộng lớn và nhiều tài nguyên của Mỹ Châu với diên tích khoảng 17 triệu dặm vuông, đứng hàng thứ nhì thế giới sau Châu Á.  Hoa Kỳ có diện tích khoảng 3 triệu 6 trăm ngàn dặm vuông đứng hàng thứ nhì sau Canada với 3 triệu 8 trăm ngàn dặm vuông.  Miền Bắc Mỹ Châu lúc đó có 13 tiểu bang, mỗi bang đứng đầu là vị Thống Ðốc. 
 Cuộc Chiến Cách Mạng Mỹ Châu bắt đầu bùng nổ với Trận Lexington và Concord (Tháng Tư, 1775) và với tiếng hô hào rất lớn của Patrick Henry “Cho Tôi Tự Do hay là Cho Tôi Chết” (Give Me Liberty or Give Me Death).  Thi sĩ Emerson đặt hai câu thơ:
 Hence once the embattled farmers stood
And fired the shot heard round the world
 Nhập cuộc chiến các nông gia đứng dậy
Phát súng đầu nghe thấy khắp năm châu
 
Tại sao xẩy ra Cuộc Chiến Cách Mạng Mỹ Châu?
 Nguyên nhân dẫn đến Cuộc Chiến Cách Mạng Mỹ Châu là sự bất mãn cao độ về chính sách thuế khóa quá cưỡng ép và không khoan nhượng, cùng với vấn đề quyền hạn của thuộc địa bị hạn chế qua sự kiện “đánh thuế mà không có sự đại diện” (taxation without representation).  Nguyên nhân sâu xa là người dân thuộc địa từ lâu vẫn hoài bão một cuộc sống tự do, bình đẳng, và độc lập đối với Mẫu Quốc Anh.
 
Cuộc cách mạng thành công nhờ những yếu tố nào?

Cuộc Chiến Cách Mạng Mỹ Châu thành công nhờ 5 yếu tố chính:

  1. Lòng bất mãn cao độ của dân thuộc địa Mỹ Châu trước sự ngoan cố của Anh Hoàng và Nghị Viện Anh.
  2. Cuộc chiến được lãnh đạo bởi những nhân vật có tài và có đức, tiêu biểu là George Washington.
  3. Ảnh hưởng của tham luận “Common Sense” cổ võ cho một nền cộng hòa độc lập.
  4. Ảnh hưởng của Bản Tuyên Ngôn Ðộc lập của nhóm Thomas Jefferson.
  5. Lòng ái quốc của các bà trong Cuộc Cách Mạng Mỹ Châu.

Tính Ngoan Cố của Anh Hoàng và Nghị Viện Anh quốc

 Anh Hoàng, George III có tiếng là đần độn từ nhỏ (học dốt) và chuyên chế; các triều thần tỏ ra bảo thủ không chịu lắng nghe nguyện vọng của các thuộc địa và quyết tâm dẹp trừ phản loạn.  Hai sử gia Hoa Kỳ ghi về George III, đại ý là “Năm 1760, George III lên ngôi.  Ông vua 22 tuổi này không muốn chấp nhận ý kiến quyền hành của vua nên bị hạn chế.  Mẹ ông ta nói với ông ta: ‘George, con phải là Vua’ và ông ta đã thực hiện câu nói đó của mẹ.”   
 Anh Hoàng ban hành các điều luật mới như Sugar Act, Stamp Act, Tea Act, Declaratory Act (thuộc địa là thuộc cấp, Nghị Viện có thể ban hành luật buộc dân thuộc địa phải tuân theo.), và Thuế Quan Townshend (đánh vào hàng hóa xuất nhập cảng) nhằm tăng giá biểu các loại thuế đánh vào thuộc địa để bù đắp cho cuộc chiến với Pháp (1754-1763). 
Sự bất mãn bùng nổ qua sự kiện có tên là “Boston Tea”: Ngày 27.11.1773, Tầu Dartmouth chở 1700 thùng trà tới Boston.  Ðám dân chống không cho đem trà xuống trong khi Thống Ðốc Hutchinson buộc phải thu thuế trà.  Tới ngày 16.12, dân biểu tình giả làm những thổ dân lên tầu và đổ hết trà xuống biển. Tin này bay tới London, nhiều người ở Anh nghĩ là phải dạy thuộc địa một bài học.  Anh Hoàng George III nói: “Ta phải buộc chúng phục tùng hay bỏ mặc chúng” (We must master them or leave them to themselves). 
 Mùa xuân năm sau (1784), Nghị Viện Anh ra “Những Ðạo Luật Cưỡng Chế” (Coercive Acts) và chuẩn bị đưa binh sĩ vượt 3000 dặm sang Mỹ Châu để dẹp loạn.  Tại Mỹ Châu, Massachusetts, thủ phủ của dân thuộc địa tị nạn, kêu gọi một cuộc họp các đại biểu của tất cả các thuộc địa để nghiên cứu đưa ra hành động chung. 
 Quốc Hội Lục Ðịa Ðầu Tiên (First Continental Congress) nhóm tại Philadelphia vào tháng Chín, 1774.  Có nhiều tranh cãi về “Hòa” hay “Chiến”.  Cuối cùng đa số chấp nhận lý luận của John Adams (sau này là Tổng Thống kế TT Washington): dân chúng thuộc địa phải cầm súng để bảo vệ các quyền của họ.  Lúc đó, John Adams phát biểu: “Cuộc cách mạng đã hoàn tất trong tâm trí của dân chúng và Khối thuộc địa, trước khi cuộc chiến khởi sự.  (The revolution was complete in the minds of the people and the Union of the colonies before the war commenced.)”
*
Thân Thế và Sự Nghiệp của George Washington (1732 – 1799)
(TC: The American Nation, tr. 106)

George Washington by Gilbert Stuart, 1797

Dường như Washington sinh ra để trở thành một vị lãnh đạo có công lao lớn nhất dẫn dắt Cuộc Chiến Cách Mạng Châu Mỹ tới thành công.  Ông thực sự xứng đáng được mọi người Hoa Kỳ gọi là “Cha của Ðất Nước” – “Father of His Country”.    

 Ông sinh ngày 22.2.1732 trong một gia đình trồng trọt thuốc lá giầu có ở Westmoreland, Virginia.  Cha mẹ ông sở hữu chừng 10 ngàn mẫu và khoảng 50 nô lệ.  Ông đối xử với các nô lệ rất tử tế và lịch sự, và không bao giờ đặt vấn đề ông có quyền sở hữu nô lệ.  Ông không theo học chính thức trường lớp nhiều, nhưng có thày dạy kèm (tutors), đặc biệt dạy ông về công dân giáo dục.  Ông siêng năng và rất kỷ luật. 
Ông có một thân thể rất tráng kiện như cha ông: cao 6 feet và cân nặng 200 pounds.  Giống như các bạn đồng lứa, ông rất ngưỡng mộ các vị anh hùng của thời Cộng Hòa La Mã tỉ như Cato the Young, nổi tiếng về tính thật thà và tận tụy với công vụ.  
 Ông không thích môn Văn nhưng giỏi Toán.  Từ nhỏ đã có khiếu về khảo sát địa hình (survey).  Năm 1749, ông làm trắc địa viên (surveyor) cho Công Ty Culpeper.
  Năm 1752, ông gia nhập dân quân Virginia.  Ông được phái tới Ohio River Valley ở đông Pennsylvania để tấn công một lực lượng nhỏ của Pháp để khởi sự Cuộc Chiến Pháp và Thổ Dân (French & Indian War) và trở thành Tư Lệnh của Dân Quân Virginia (1755- 58).  Cuối 1758, ông từ nhiệm nghĩa vụ này vì: là một dân Mỹ Châu, ông sẽ không thể thăng tiến trong quân đội Anh Quốc mặc dầu ông dũng cảm và có tài quân sự. 
 Ông chuyển sang sự nghiệp chính trị bằng cách nhận một ghế trong Hạ Viện của Nhóm Burgesses (Ðại Biểu Thị Xã, 1759- 74), làm thẩm phán tòa hòa giải (1760- 74), quản lý sở đất Virginia của ông ở Mount Vernon, và cưới bà Martha Dandrid ngày 6.1.1759. 
Khi Cuộc Cách Mạng Châu Mỹ sắp bùng nổ trong giữa những năm 1770, ông đắc cử vào Quốc Hội Lục Ðịa Kỳ I (1774 – 75).  Ngày 15.6.1775, Quốc Hội Lục Ðịa Kỳ II bổ nhiệm ông là Tổng Tư Lệnh Quân Ðội Lục Ðịa.  Ông nắm quyền chỉ huy vào ngày 3.7.1775.  Ông đã xây dựng từ những binh đoàn kém huấn luyện và thiếu trang bị thành những đơn vị có kỷ luật và tác chiến tốt, và bảo vệ được Boston (1776).  Tuy nhiên ông suýt bị tiêu tan sự nghiệp vì thất trận ở Long Island. 
Sau những thành công trong các trận ở Trenton và Princeton, ông gỡ được một chút tín nhiệm.  Ông tránh khỏi được một toan tính bãi nhiệm ông.  Trong các năm 1777- 78, ông rút các đơn vị về thủ ở Valley Forge.  Nhờ kết đồng minh với Pháp (1778) và Tây Ban Nha (1779), lực lượng của ông chiếm được Yorktown (1781).  Khi hòa bình ký kết (1783), ông từ chức trở về trang trại ở Mount Vernon.
 Bất bình với những Ðiều Khoản về Liên Hiệp Chế (Confederacy) 1781, ông đóng vai trò chính trong nỗ lực bảo vệ chấp nhận Hiến Pháp Hiệp Chủng Quốc
 Năm 1789 được Quốc Hội nhất loạt bầu làm vị Tổng Thống đầu tiên.  
Ông làm lễ nhậm chức Tổng Thống vào ngày 30 Tháng 4, 1789.   Tin tưởng mãnh liệt vào một chính quyền trung ương mạnh, ông thành lập ngành tư pháp liên bang (1789) và một ngân hàng quốc gia (1791). 
Năm 1792, ông lại được Quốc Hội nhất loạt bầu làm Tổng Thống nhiệm kỳ hai.
 Trong nhiệm kỳ hai, nhìn thấy đã có nhiều dấu hiệu chia rẽ đảng phái, TT Washington đã đưa ra lời tiên đoán rằng “đất nước sau này chắc chắn sẽ rơi vào nạn chia rẽ đảng phái rất trầm trọng” và trong bài diễn văn từ giã cuối nhiệm kỳ hai vào Tháng Chín, 1796,  ông phát biểu sẽ không nhận đề cử làm TT cho nhiệm kỳ ba và ông biện bác cho một quốc gia đoàn kết hơn là chia rẽ bởi các đảng phái, bởi các chính sách kinh tế, hay đối ngoại.   Hết nhiệm kỳ hai, ông trở lại Mount Vernon vui thú điền viên. 
Với đức tính liêm khiết, lòng kiên nhẫn, trái tim yêu công lý, và tinh thần trách nhiệm cao, ông là một vị lãnh đạo vĩ đại và rất xứng đáng với danh hiệu “Cha của Ðất Nước”.  Ông qua đời ngày 14.12.1799.
 Nhưng Cuộc Chiến Cách Mạng giành độc lập thành công hẳn nhiên còn nhờ tới những bài luận thuyết nẩy lửa của những nhân vật tài ba viết làm bùng lên khí thế đấu tranh rất mãnh liệt và kiên cường của đông đảo quần chúng.
 
Ảnh Hưởng của Bản Tham Luận “Common Sense” của Thomas Paine (1737- 1809)

Thomas Paine
Portrait by Auguste Millière (1880)

Thomas Paine sinh trưởng ở Anh và là một nhà văn cấp tiến, một khuôn mặt lãnh đạo của Cuộc cách Mạng Mỹ Châu.  Ông di cư sang Mỹ Châu năm 1774.  Hơn 150 ngàn ấn bản tham luận (pamphlet)Common Sense (Ý Thức Thông Thường) rất có ảnh hưởng của  ông được bán ra năm 1776 thúc đẩy các thuộc địa tuyên bố hoàn toàn độc lập.  Ông gọi Anh Hoàng George III là “Bạo Chúa” (Royal Brute) và nói với những người còn e ngại, sợ xệt: “Một chính quyền của chính chúng ta là quyền tự nhiên của chúng ta” (A government of our own is our natural right”). 

Ông nhấn mạnh: “Hỡi nhân loại yêu quý!  Chúng ta dám chống không phải chỉ với sự bạo ngược mà chống ngay cả tên bạo ngược nữa” (O! ye that love mankind!  Ye that dare oppose not only tyranny but the tyrant itself!).  
 Bản Common Sense ảnh hưởng mạnh trong Quốc Hội.  Tháng 3, 1776, Quốc Hội phái các tầu võ trang chống thương thuyền Anh; cho mở các cửa cảng châu Mỹ cho tầu ngoại quốc vào; thúc đẩy các đại hội tỉnh hình thành hiến pháp và chính quyền tiểu bang.  Ngày 7.6.1776, Richard Lee đưa ra bản quyết nghị của đại hội Virginia như sau:
Quyết Nghị: Rằng các thuộc địa thống nhất là và có quyền là những tiểu bang tự do và độc lập; rằng các thuộc địa xóa bỏ hết mọi liên thuộc với Vương Quốc Anh; và rằng mối liên lạc chính trị giữa các thuộc địa và Anh Quốc thì và phải là hoàn toàn giải tán.
 
Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ
 
Ðể chính thức tuyên bố cắt đứt mọi dính líu và lệ thuộc vào mẫu quốc, Quốc Hội Lục Ðịa thành lập một nhóm gồm năm nhân vật: Thomas Jefferson, Benjamin Franklin, John Adam, Roger Sherman, và Robert Livingston với nhiệm vụ soạn thảo bản tuyên ngôn độc lập. 

Thomas Jefferson (by Rembrandt Peale, 1800)

Thomas Jefferson được coi như là soạn thảo viên chính vì ông là một luật gia có văn tài và thông minh. Sau đó ông được cử làm Thống Ðốc bang VA (1779- 81) và bầu làm Tổng Thống hai nhiệm kỳ (1801 – 1809).

 Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập (Declaration of Independence) được ký ngày 4 tháng 7 năm 1776 là một văn kiện đánh dấu kỷ nguyên mới của nhân loại trong thế kỷ 18 nói lên tiếng nói đoạn tuyệt với chế độ quân chủ để xây dựng một chính thể mới gọi là chính thể cộng hòa (the republic) với nội dung quyền hành của đất nước là của toàn dân.  Ý niệm này xuất phát từ những tư tưởng trong các luận thuyết của các triết gia điển hình là Jean Jacque Rousseau (Pháp) viết cuốn “Nguồn Gốc của Sự Bất Bình Ðẳng của Con Người (Origin of Inequality of Man, 1755). 
Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hoa Kỳ vang dội khắp thế giới.  Ðặc biệt là ở Pháp, Cuộc Cách Mạng 1789 đã đưa ra bản tuyên ngôn tương tự gọi là Tuyên Ngôn của Pháp Quốc về Quyền của Con Người(French Declaration of the Rights of Man).   
 Nội dung Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hoa Kỳ như sau:
 Chúng tôi coi những sự thật sau đây là hiển nhiên rằng mọi người sinh ra là bình đẳng, rằng Tạo Hóa ban cho họ một số quyền bất khả chuyển nhượng, rằng trong những quyền đó có quyền Sống, quyền Tự Do, và quyền theo đuổi Hạnh Phúc.  Rằng để bảo đảm những quyền này, Chính Quyền phải được xây dựng bởi luật pháp và quyền hạn chính đáng của chính quyền phải xuất phát từ sự đồng ý của những Người Dân.  Rằng bất cứ khi nào bất cứ một Hình Thức Chính Quyền trở nên phá hoại đối với những cứu cánh này thì Người Dân có Quyền thay đổi hay hủy bỏ chính quyền đó, và thiết lập Chánh Quyền mới. …
 Xin thưởng thức bài thơ:
 
Mừng Độc Lập Hoa Kỳ
-Hải Bằng.HDB
 
Quyết rời mẫu quốc tái xây đời
Dân chủ đa nguyên đạt mới thôi
Ðộc Lập châm ngôn soi vạn thế
Tự Do lý tưởng sáng muôn thời
Phát huy Bình Ðẳng trên toàn cõi
Bảo vệ Nhân Quyền tại khắp nơi
Mở rộng vòng tay ôm tị nạn
Tạ ơn Nước Mỹ bút thay lời
 
Ngoài những lực lượng kiên cường và các bài viết hùng hồn, cuộc chiến giành độc lập cho Mỹ Châu còn dựa vào sự góp sức hết lòng của phụ nữ Hoa Kỳ.  Họ đã toàn bộ đứng lên làm những công tác nâng cao tinh thần binh sĩ lúc đó đang xuống thấp và phải lui về tái bố trí ở Valley Forge. 
 
Lòng Ái Quốc của Các Bà trong Cuộc Cách Mạng Mỹ Châu
 Thật ra không phải tất cả mọi người đều hưởng ứng ngay phong trào cách mạng. 
Trái lại còn khá nhiều phân tử trung thành với mẫu quốc gọi là “bảo hoàng” (loyalists) vì tâm lý sợ hãi thế lực còn mạnh của Anh Quốc và vả lại họ chưa ý thức được thế nào là hạnh phúc, là tự do, và bình đẳng bởi vì họ đã quá quen với những nếp sống cũ: phục tùng và chịu đựng.  Ngay cả đối với mười ba tiểu bang bỏ phiếu biểu quyết cho bản Tuyên ngôn Ðộc Lập, cũng chỉ có 9 đại biểu bỏ phiếu thuận; còn hai đại biểu bỏ phiếu chống là Pennsylvania và South Carolina và hai đại biểu lưng chừng là Delaware và New York. 
 Cuộc chiến ban đầu gây nhiều tổn thất cho thuộc địa vì quân số ít và trang bị thiếu thốn.  Tin về quân Anh đã chiếm Chaleston, South Carolina, truyền tới Philadelphia trong tháng Năm, 1780, chính quyền và các thương gia lập tức tìm mọi cách gây quỹ yểm trợ cuộc chiến và nâng tinh thần của binh đội.  Bỗng có một cuộc vận động không ai ngờ được là các bà ở Phila lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ đứng ra lập hội nhằm kêu gọi tất cả các thuộc địa yểm trợ cuộc chiến.  Cuộc vận động bắt đầu từ ngày 10.6.1780 và người có sáng kiến lập hội này là bà Esther de Berdt Reed 33 tuổi và là một người yêu nước kiên cường viết một bài vận động tâm lý có nhan đề là “Tâm Tình của một Phụ Nữ Mỹ” (The Sentiments of An American Woman) và trở thành chủ tịch của Hội Của Quý Bà (Ladies Association).   

Esther de Berdt Reed by Charles Peale

 Trong bản “Tâm Tình”, bà Berdt xác định rằng phụ nữ Mỹ phải cương quyết làm nhiều hơn là hứa suông (barren wishes).  Bà nêu lên sự nghiệp vĩ đại của vị Nữ Anh Hùng Joan of Arc của Pháp (1412 – 1431), người nữ nông dân nghèo đã đứng lên hô hào giải phóng nước Pháp khỏi Anh Quốc.  Bà hô hào phụ nữ Mỹ nên từ bỏ “các món trang sức tầm thường” (vain ornaments) và dành món tiền mua sắm quần áo lòe loẹt hay làm tóc kiểu để mua quà tặng cho binh sĩ gọi là “quà của Quý Bà” (the offering of the Ladies). 

 Lời kêu gọi này được đáp ứng ngay lập tức.  Ba ngày sau khi bài “Tâm Tình của Một Phụ Nữ” xuất hiện, ba mươi sáu bà ở Philadelphia hội lại để quyết định làm thế nào tiến hành những đề xuất của bà Berdt. Những quyết nghị của họ in trong một phụ chương của bài Những Tâm Tình đăng tải trên báoPennsylvania Zazette ngày 21.6.1780.  Bản kế hoạch có nhan đề “Những Ý Kiến, liên quan tới cách gửi tới Các Binh Sĩ Mỹ, các Món Quà của các Phụ Nữ Mỹ” và bản kế hoạch không đề nghị gì hơn là động viên toàn bộ nữ giới.  Những đóng góp sẽ được nhận từ bất cứ một phụ nữ nào với bất kỳ số lượng nào.  Môt “Nữ thủ quỹ” sẽ được chỉ định trong mỗi quận kiểm tra thu góp tiền bạc, ghi cẩn thận tất cả những khoản tiền thu.  Kiểm tra những công việc của những nữ thủ quỹ quận sẽ là phu nhân của Thống Ðốc trong chức vụ “Nữ Tổng Thủ Quỹ”.  Nhất loạt, tất cả các món quyên góp sẽ được gửi cho Martha Washington (phu nhân của George Washington) để tặng binh sĩ. 
Công tác quyên góp được tiến hành ngay.  Thành phố Phila chia thành mười khu, mỗi khu có hai tới năm bà phụ trách.  Từng cặp vận động viên như vậy đi đến từng nhà quyên góp không trừ một ai.  Nhóm vận động viên bao gồm đủ thành phần xã hội.  Vào đầu tháng Bẩy, số tiền lạc quyên lên tới ba trăm ngàn đô la thuộc địa ($300, 000. dollars thuộc địa).  Trong tháng Bẩy, báo chí khắp nơi tái đăng bài “Những Tâm Tình kèm theo kế hoạch chi tiết về lạc quyên. 
Các bà ở Trenton, New Jersey, là nhóm đầu tiên theo gương Philadelphia.  Họ cũng cho đăng tải bài kêu gọi lấy tên là “Tâm Tình của Các Bà ở New Jersey”.  Trung tuần tháng Bẩy, New Jersey chuyển số tiền khởi thủy $15,500. cho George Washington.  Ở Maryland, hội các bà gửi $16,000. mới chỉ quyên góp ở thành phố Annapolis thôi.  Chủ bút báo Pennsylvania Packet viết một bài đặc biệt gửi cho cư dân Matyland: “Phụ nữ ở mọi nơi trên hoàn cầu đang mắc nợ các phụ nữ ở Mỹ Châu vì họ đã tỏ ra rằng nữ giới có khả năng làm công đức chính trị cao nhất.” (the women of every part of the globe are under obligations to those of America for having shown that females are capable of the highest political virtue). 
 Số tiền quyên góp đã được dùng để làm gì?  Kế hoạch sử dụng tiền quyên góp của các bà rất khác với kế hoạch của vị Tổng Tư Lệnh Quân Ðội, George Washington.  Ông muốn làm các áo sơ mi cho binh sĩ hơn bất cứ các món quà nào khác.  Nhưng bà Esther Reed báo cáo rằng không những vải rất khó kiếm mà hơn nữa Pennsylvania đang có kế hoạch gửi hai ngàn áo sơ mi cho binh sĩ và hàng đã được chở từ Pháp qua nhiều rồi.  Bà thêm rằng một số người đưa ý kiến là đổi hết số tiền ra dollar nặng và tặng cho binh sĩ mỗi người hai đồng để tùy nghi sử dụng.  Tuy nhiên, bà viết thêm cho vị Tổng Tư Lệnh Quân Ðội, George Washington, rằng nếu binh sĩ còn cần sơ mi thì Hội Các bà sẽ dành một khoản tiền để thực hiện. 
 Washington trả lời đại ý rằng: tặng tiền có thể sẽ tạo cho binh sĩ phạm ký luật nếu họ uống rượu.  Nếu quý bà muốn sử dụng tiền tặng dữ làm phước đó tốt đẹp, thì nên mua sơ mi tặng cho binh sĩ. 
Rút cục các bà thực hiện đúng ý Washington.  Bất hạnh thay, công việc chưa thực hiện xong thì bà Esther de Berdt qua đời vì bịnh kiết lỵ (1780) và công việc điều hành hội trao cho bà Sarah Franklin Bache (con gái của Benjamin Franklin) đảm nhiệm.  Cho tới đầu tháng 12 thì đã hoàn tất hơn 2000 sơ mi có in tên của một bà đã lập gia đình hay chưa lập gia đình may tấm áo đó.  Cuối tháng 12, số sơ mi được trao cho viên Tổng Quân Nhu ở Philadelphia.   
Một người dân Philadelphia dấu tên viết: “Tôi thú nhận rằng chúng tôi đã tiến hành công việc một cách nghiêm trang và với lý do cao quý.  Chúng tôi hy sinh từng giờ phút mà chúng tôi có thể dành ra từ những công việc nhà cho công ích.  Chúng tôi quên tất cả những mệt nhọc vì sung sướng và hãnh diện là trong khi các binh sĩ chịu gian khổ và hiểm nguy trên chiến địa để bảo vệ chúng tôi thì chúng tôi ở nhà chỉ làm những lao động nhỏ thôi nhằm tạo những phút thoải mái và làm nhẹ đi những nỗi nhọc nhằn của họ.”
*
Tóm lại, Cuộc Chiến Cách Mạng Châu Mỹ mở đầu một kỷ nguyên mới của nhân loại, kỷ nguyên của Tự Do, Bình Ðẳng, và Tiến Bộ với một quốc gia mới, rất trẻ trung được khai sinh, đó là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (The United States of America).  Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập minh định “Mọi người sinh ra bình đẳng” và “Quyền hạn của chính quyền phải xuất phát từ sự đồng ý của người dân”.  Ðó là những tư tưởng hoàn toàn mới mẻ và đầy hấp dẫn khi mà những hình thức và tập tục của chế độ quân chủ vẫn còn ngự trị trong tâm trí nhiều người. 
 
Pháp là nước đầu tiên noi gương Hoa Kỳ tiến hành Cuộc Cách Mạng Pháp 1789 nhằm triệt hạ chế độ quân chủ của Louis XVI và nhân ngày lễ Ðộc Lập của Hoa Kỳ thứ 100, nước Pháp tặng Mỹ Quốc bức Tượng Nữ Thần Tự Do hiện đặt trong cảng New York. 
 
Hoa Kỳ vẫn phải tự cho mình trách nhiệm bảo vệ và phát huy những lý tưởng nêu trong bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập trên mô hình toàn cầu trong ý niệm về Một Nền Trật Tự Mới Thế Giới.

 William Hoàng

Hải Bằng HDB

Hình Ảnh Luật Pháp Trong Những Vần Thơ

Nguyễn Văn Thành

Theo các nhà sử luật danh tiếng tỷ như Lord Birkett hay Louis Blom-Cooper, nét nổi bật nhất của thẩm phán Anh đã đi tiên phong, từ nhiều thế kỷ trước đây, đưa văn thơ vào pháp luật qua nhiều ngả như xây dựng một lý thuyết hay đặt ra các nguyên tắc pháp lý để áp dụng vào các vụ tranh tụng thuộc luật pháp Anh Cát Lợi thường được gọi Luật Hồng Mao (Anglo-Saxon). Trái lại, ở lục địa tỷ như Pháp, Bỉ, Hòa Lan, Ðức lại chịu ảnh hưởng của luật La-Hy (Greco-Roman), ta thấy thủ tục pháp lý đặt ra các khuôn mẫu phải tuân theo mỗi khi có quyết định của Tòa. Trong khi đó, thẩm phán Anh không bị gò bó vào các thể thức rập khuôn cứng ngắc, đã có nhiều cơ hội rất thích hợp đưa ra các ý kiến pháp lý, phê bình những lý thuyết, đề ra những nguyên tắc hoặc bàn cãi về phong tục tập quán liên hệ tới thông luật (common law) với ngôn ngữ chọn lọc kỹ càng trong một văn phong pháp lý tuyệt diệu đã đóng góp nhiều công trình giá trị làm phong phú sách báo khảo luật. Ðó là những Pháp Lý Tập San đủ thể loại được coi như không những là kho tàng vĩ đại của luật pháp mà còn là kho tàng đồ sộ của văn học vậy (The Law Reports are not only a great treasury of law but they are a great treasury of literature- Luật Pháp như Văn Học – The Law as Literature – do Louis Blom-Cooper biên soạn).

Nét Đặc Trưng

Về thi ca liên quan tới pháp luật, ta thấy các nhà phê bình văn học và sử luật đều đồng thuận như sau: “Hầu hết các bài thơ đề cập tới chủ đề pháp lý chứa đựng nội dung rất ghê sợ. Không giống như văn xuôi, thật vô cùng khó khăn sưu tầm được những bài thơ kể câu chuyện truyền cảm với lối viết hết sức lôi cuốn đưa ta bay bổng lên cao để tạm vượt thoát khỏi cuộc sống hiện tại”.
Chúng tôi không đi sâu vào các lý thuyết hay quan niệm hoặc khuynh hướng phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa luật pháp và văn học. Trong bài này, người viết sẽ nêu lên vài nét đặc trưng của thi ca pháp lý về sự phê phán nói trên, thể hiện qua ba bài thơ tiêu biểu dưới đây:

1- INVICTUS

Theo tiếng La Tinh, invictus có nghĩa không bị bại hay không thể chinh phục được.
Thi sĩ Anh William Ernest Henley mở mắt chào đời ngày 23 tháng 8 năm 1849 tại Gloucester và qua đời ngày 11 tháng 7 năm 1903 tại Woking, gần Luân Ðôn. Thời thơ ấu Henley mắc bệnh lao và sau đó bị cưa cụt một chân. Trong thời gian hai năm ở Bệnh viện tại Edinburg (1873-1875), thi sĩ đã viết bài thơ Invictus về những ngày trải qua tại bệnh xá, nói lên sự khát khao về cuộc sống, và nỗ lực chống lại căn bệnh nan y.
Ðó là bài thơ được nhiều người ưa thích nhất vào thời bấy giờ mà tử tội Mạc Vệ (Timothy McVeigh) đã chép tay trao cho người gác ngục thất Liên Bang Terre Haute, Indiana để đưa cho báo chí và truyền thông phổ biến thay cho lời nói cuối cùng của y, trước khi bị chích ba mũi thuốc độc, để về bên kia thế giới.
Mạc Vệ can tội đặt bom phá hủy Tòa Nhà Liên Bang Alfred P. Murray ngày 19.4.1995 ở Oklahoma làm thiệt mạng 168 người trong đó có 19 trẻ em. Y không hề ăn năn hối hận, cho đến lúc tới giờ hành quyết, tử tội Mạc Vệ vẫn mở mắt trừng trừng nhìn lên trần nhà như hãy còn oán hận chính phủ liên bang đã ra lệnh cho nhân viên thuộc Cục Ðiều Tra Liên Bang FBI tấn công vào trụ sở của giáo phái Branch Davidian ở Waco, Texas, giết chết 70 người vừa trẻ em và đàn bà. Ðó là nguyên nhân vụ trả thù đặt bom ở Oklahoma khiến cho Mạc Vệ bị hành quyết lúc 7 giờ 15 phút ngày thứ hai 11.6.2001 tại ngục thất liên bang Terre Haute, Indiana (tham khảo bài “Án tử hình” của cựu thẩm phán quân sự Nguyễn Ðình Trí, bút hiệu Kinh Huy).

Theo giáo sư Marian Hoctor, bài thơ Invictus phản ảnh chủ nghĩa khắc kỷ (stoicism) mà tác giả muốn nói lên vào thời đó. Còn Mạc Vệ muốn mượn lời thơ của người để nói lên sự chống đối chính phủ liên bang Hoa Kỳ được tiết lộ trong lá thư của y gửi cho báo the Observer qua bản tin của đài BBC. Tác giả Kinh Huy đã trích 4 câu thơ trong số 16 câu trong bài Invictus do nhà thơ Henley làm năm 1875:
“Ðầu ta đẫm máu nhưng không gục
Ngoài nơi đầy hận thù và nước mắt
Ta là chủ soái vận mệnh ta
Ta là giáo chủ linh hồn ta”
(My head is bloody, but unbowed
Beyond this place of wrath and tears
I am the master of my fate
I am the captain of my soul)

INVICTUS

William Ernest Henley

“Out of the night that covers me,
Black as a Pit from pole to pole,
I thank whatever gods may be
For my unconquerable soul.
In the fell clutch of circumstance
I have not winced nor cried aloud,
Under the bludgeonings of chance
My head is bloody, but unbowed.
Beyond this place of wrath and tears
Looms but the horror of the shade,
And yet the menace of the years Finds,
And shall find me, unfraid.
It matters not how strait the gate,
How charged with punishments the scroll,
I am the master of my fate:
I am the captain of my soul.”

BẤT BẠI
Ra tự màn đêm che tôi, phủ khắp,
Ðen như than cực bắc đến cực nam,
Tôi cảm tạ các thần-linh cùng khắp
Ðã cho tôi hồn bất khả chinh an.
Dù thời thế hay cuộc đời khắc-nghiệt
Ghì tắc thở, tôi vẫn chẳng hé môi than,
Và may rủi mà có như đập riết,
Ðầu máu me tôi vẫn cứ ngang tàng.
Sau nơi này đầy phẫn nộ, lệ rơi,
Cùng lắm là tởm ghê nơi Diêm-xứ
Mặc đe dọa của tuổi đời tôi cứ
Vẫn thấy tôi chẳng biết sợ, còn xơi.
Cửa vào Thiên-đường dù như rất hẹp,
Tội-trạng kia cũng có thể đầy bồ
Tôi vẫn là chủ tôi nguyên trọn kiếp,
Là xếp hồn tôi bẻ lái vào hư-vô.

2- FROM THE BALLAD OF READING GAOL

Oscar Wilde (Fingal O’Flahertie Wills), người Anh sinh tại Ái Nhĩ Lan năm 1854 và mất ngày 30.11.1900 tại Paris, Pháp.
Vào năm 40 tuổi, Oscar Wilde, kịch tác gia, tiểu thuyết gia, nhà thơ và người kể chuyện dí dỏm, đã đạt tới đỉnh cao chót vót của danh vọng, nổi tiếng chẳng những ở Anh, ở Ái Nhĩ Lan mà còn vượt đại dương. Nhà văn học Wilde sang Hoa Kỳ năm 1882 thuyết trình về nhiều đề tài. Tiểu sử và tác phẩm của Oscar Wilde chiếm một chỗ trang trọng (trang 218) trong tác phẩm vĩ đại lưu tại Thư Viện Quốc Hội, Washington DC (Luật Một Kho Tàng của Nghệ Thuật và Văn Học – Law A Treasury of Art and Literature – Edited by Sara Robbins).
Rủi thay, Wilde có liên hệ tình dục với người cùng phái, bị Tòa Án tại Luân Ðôn, kết án ngày 26.05.1895, phạt hai năm tù với khổ dịch về tội “kê gian” (sodomy). Luật hình Anh Quốc rất khắt khe, vào thời đó, cấm chỉ việc làm tình với người cùng phái tại phòng riêng của mình dù là thành niên hay thuận tình. Khi nghe Tòa tuyên án, Wilde đã khóc, khóc cho mối tình mà không dám nói rõ tên ở thế kỷ này hay khóc cho những ngày tháng dài lê thê trong ngục tù?
Phạm nhân Wilde khai phá sản trong vụ kiện tai tiếng nhất được gọi The Queensberry Case, một trong một trăm vụ án lớn nhất trên thế giới, về sự giao du thân mật với Lord Alfred Douglas, 22 tuổi, thứ nam của Hầu Tước Qeensberry. Cả hai người, Wilde và Douglas, không bao giờ có cơ hội gặp lại nhau nữa kể từ ngày Wilde bị truy tố ra Tòa và bị kết án.
Trong thời gian trên, bị áp lực của Hầu Tước Queensberry và các cuộc tranh cãi lớn giữa cha con, Douglas phải sống lưu vong tại Ý nhưng đã viết xong bài thơ mang tựa đề “Hai Mối Tình”. Còn Wilde, có lẽ lời nói cuối cùng về cuộc đời ngắn ngủi và bi thảm nằm trong sáu câu thơ chót mà đương sự hoàn tất, trước khi lìa đời, coi như lời kết “Bài Ca Nhà Tù Rét-Ðinh”, muốn nói lên nỗi tuyệt vọng không còn được đoàn tụ với Alfred Douglas nữa.
Sau khi thụ án xong hai năm, ra khỏi tù, Wilde cảm thấy bơ vơ không có nơi dung thân tại Anh nên di chuyển sang Âu Châu tự buộc mình sống cuộc đời lưu vong và cuối cùng quyết định định cư tại Paris, Pháp quốc.
Sống trong tủi nhục và nghèo khổ, Wilde mắc bệnh viêm màng óc, từ giã cõi đời năm 46 tuổi tại Paris, để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng tỷ như The Importance of Being Earnest and An Ideal Husband.

THE BALLAD OF READING GAOL
(Trích 6 câu)
Oscar Wilde
I know not whether Laws be right,
Or whether Laws be wrong;
All that we know who lie in gaol
Is that the wall is strong;
And that each day is like a year,
A year whose days are long

BÀI CA NHÀ TÙ RÉT- ĐINH
Tôi chẳng biết luật thế-gian có đúng
Hay là sai;
Tôi chỉ biết là ở trong nhà tù túng
Tường thật dầy
Nên mỗi ngày dài bằng cả năm
Lê thê rụng

3- LAW LIKE LOVE

Thi sĩ Auden (Wystan Hugh) sinh năm 1907 tại Yorkshire, Anh Quốc, sau nhập tịch Hoa Kỳ, tạ thế năm 1973 tại Vienne. Tác phẩm nổi tiếng nhất của thi sĩ Anh Auden là bài thơ Luật Như Tình. Nhiều tác phẩm văn xuôi lớn tỷ như Luật Pháp trong Văn Học hay Luật Pháp như Văn Học đã chọn đăng ngay trang đầu sách, một bài thơ duy nhất, đó là bài Luật Như Tình. Sau nhiều năm sưu tầm tại các thư viện, người viết chưa tìm thấy được bài thơ nào có nội dung và văn phong như bài thơ nói trên.

LAW LIKE LOVE
W. H. Auden

Law, say the gardeners, is the sun,
Law is the one
All gardeners obey
Tomorrow, yesterday, today.
Law is the wisdom of the old
The impotent grandfathers shrilly scold;
The grandchildren put out a treble tongue,
Law is the senses of the young.
Law, says the priest with a priestly look,
Expounding to an unpriestly people,
Law is the words in my priestly book,
Law is my pulpit and my steeple.
Law, says the judge as he looks down his nose,
Speaking clearly and most severely,
Law is as I’ve told you before,
Law is as you know I suppose,
Law is but let me explain it once more,
Law is The Law.
Yet law-abiding scholars write;
Law is neither wrong nor right,
Law is only crimes
Punished by places and by times,
Law is the clothes men wear
Anytime, anywhere,
Law is Good-morning and Good-night.
Others say, Law is our Fate;
Others say, Law is our State;
Others say, others say
Law is no more
Law has gone away.
And always the loud angry crowd
Very angry and very loud
Law is We,
And always the soft idiot softly Me.
If we, dear, know we know no more
Than they about the law,
If I no more than you
Know what we should and should not do
Except that all agree
Gladly or miserably
That the law is
And that all know this,
If therefore thinking it absurd
To identify Law with some other word,
Unlike so many men
I cannot say Law is again,
No more than they can we suppress
The universal wish to guess
Or slip out of our own position
Into an unconcerned condition.
Although I can at least confine
Your vanity and mine
To stating timidly
A timid similarity,
We shall boast anyway:
Like love I say.
Like love we don’t know where or why
Like love we can’t compel or fly
Like love we often weep
Like love we seldom keep.

LUẬT NHƯ TÌNH
W. H. Auden

Luật là mặt trời, dân làm vườn bảo vậy
Luật là luật
Mà bất cứ ai làm vườn cũng phải tuân theo
Hôm nay, ngày mai cũng như trong quá khứ.
Luật chính là trí tuệ của người xưa
Mà các ông già bất lực cau có mắng;
Mà đàn cháu con thè lè lưỡi ra the thé,
Luật chính là cái lý của tuổi trẻ.
Luật, vị tu sĩ với bộ mặt thầy tu phán,
Khi ông giảng luật cho bọn dân vô luật, không tu
Luật là những lời trong kinh sách của ta,
Luật là bục giảng cũng như tháp chuông ta.
Luật, ông quan tòa nhìn dọc mũi mình ngó xuống,
Giọng rành rành và cũng rất nghiêm minh,
Luật là như ta đã từng dạy trước đây,
Luật là như ta nghĩ các ngươi phải biết,
Luật là… nhưng thôi, hãy để ta giảng thêm cho lần nữa,
Luật là… LUẬT!
Vậy mà các học giả trọng luật viết:
Luật chẳng thị mà cũng chẳng phi,
Luật chỉ là những tội tình
Mà có nơi có thời xem là đáng phạt,
Luật là áo quần mà người ta mặc
Bất cứ đâu, bất cứ lúc nào,
Luật là Chào buổi sáng và Ngủ yên đêm.
Lại có người cho rằng Luật là Ðịnh Mệnh;
Hay theo người khác, Luật là Nhà Nước;
Rồi lại có kẻ, lại có kẻ nói
Luật làm gì còn nữa
Luật đã biến từ lâu.
Và luôn luôn đám đông giận dỗi la ó
Giận thật giận và cũng rất ồn ào
Luật đích thị là Chúng Ta đây,
Và luôn luôn còn thằng ngu nhỏ nhẹ: Tui nữa chớ!
Nếu như chúng ta, bạn hỡi, biết là ta ngốc nghếch
Chẳng biết gì hơn người về luật,
Nếu tôi cũng chẳng biết gì hơn em
Và điều ta nên hay chẳng nên làm
Ngoại trừ mỗi một điều là mọi người đồng ý
Dù muốn dù không
Là luật có thật
Và ai cũng biết điều này,
Do đó nên nếu ta cho luật là phi lý
Ðể cho Luật đồng nghĩa với lời nào khác,
Thì khác cả mọi người
Ta không còn nói được Luật là có thật nữa,
Không hơn gì họ ta khó mà đè nén
Ðiều mong ước phổ cập là đoán định
Hay tìm cách lách ra khỏi vị trí
Của chúng ta để vào một mảnh đất vô ưu.
Thế cho nên dù ít ra ta có thể giới hạn
Nhốt cái vênh vang của em lẫn ta
Ðể rụt rè mà nói
Một điều nhỏ nhẹ giống nhau,
Một điều ta cứ sẽ vênh vang:
Như tình yêu là Luật, ta phán.
Như tình yêu, ta chẳng biết vì sao hay ở đâu nó đến
Như tình yêu, chẳng buộc được mà cũng không thả được cho nó bay
Như tình yêu, ta đôi khi cũng khóc
Như tình yêu mà ta ít khi giữ trọn.
(Trích từ trong The Law as Literature, do Louis Blom-Cooper biên tập. Nguyễn Ngọc Bích dịch)

TẠM KẾT

Ba bài thơ trình bày ở trên, đặc biệt bài “Luật Như Tình” dù cho rằng chỉ có giá trị hoàn toàn về mặt giải trí mà thôi, đều nằm trong đường hướng của các nhà khảo luật đề ra nhắm mục đích rút ngắn khoảng cách khá xa giữa các nhà chuyên môn hay không chuyên môn về khoa luật học. Do đó, cần phải phổ biến rộng rãi những tài liệu quý nằm trong kho Pháp Lý Tập San, qua các tác phẩm có giá trị đề cập tới chủ đề pháp lý của các nhà văn và nhà thơ tên tuổi trên thế giới.

Trích: “LUẬT PHÁP VÀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT” Của soạn giả: TP. Nguyễn Văn Thành.

Lord Byron (1788 – 1824) Nhà Thơ lãng mạn nhất của nước Anh

Phạm Văn Tuấn

            Lord Byron được nhiều người coi là nhà thơ người Anh lãng mạn nhất. Cuộc đời mạo hiểm và các bài thơ đặc sắc là những điều hấp dẫn của nhà thơ này. Thi sĩ Byron thường hay dùng các dòng thơ để mô tả tình cảm khi ông đang sinh sống tại châu Âu hay miền Cận Đông (the Near East) và các lời thơ của Byron đã phản ánh các kinh nghiệm và các niềm tin của tác giả. Thơ phú của Byron thi đôi khi mãnh liệt, đôi khi dịu dàng, đôi khi kỳ lạ nhưng trong nội dung của các bài thơ, thi sĩ Byron đã nhấn mạnh rằng mọi người được tự do chọn lựa lối sống riêng tư của mình.

1/ Cuộc đời của Lord Byron.

            George Gordon Byron chào đời vào ngày 22/1/1788 trong thành phố London nhưng trong 10 năm đầu, hầu như cậu Byron sinh sống với người mẹ tại Tô Cách Lan (Scotland). Cha của Byron là Đại Úy John “Mad Jack” Byron đã bỏ bê vợ con rồi ông ta qua đời khi cậu bé Byron lên 3 tuổi. Byron thừa hưởng danh hiệu “Lord” khi lên 10 tuổi sau khi ông chú qua đời. Sau đó Byron trở lại nước Anh, theo học tại Harrow School rồi Đại Học Cambridge, là hai trong vài ngôi trường danh tiếng nhất của nước Anh.

            Tập thơ đầu tiên của Byron có tên là “Hours of Idleness” (Các Giờ Nhàn Rỗi, 1807) đã bị tạp chí Edinburgh phê bình nặng nề, đây là một tạp chí văn chương của miền Tô Cách Lan. Đế tấn công hầu như mọi nhân vật văn chương của thời kỳ đó, Byron đã đáp lại bằng các lời thơ châm biếm trong tập thơ “English Bards and Scotch Reviewers” (Các Nhà Thơ Anh và các Nhà Phê Bình Tô Cách Lan, 1809).

            Từ năm 1809 tới năm 1811, Byron đã du lịch qua miền nam của châu Âu và một phần của miền Cận Đông (the Near East). Vào năm 1812, Byron cho phổ biến 2 tập thơ ngắn (2 cantos) của Quyển Thơ Childe Harold’s Pilgrimage (cuộc Hành Hương của Childe Harold). Các tập thơ này được viết tại các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Albania và Hy Lạp, ngay sau đó đã khiến cho tác giả nổi danh.

            Các tập thơ kể chuyện về miền đất phía đông như “The Bride of Abydos” (Cô Dâu của Abydos, 1813) và “The Corsair” (Người Corsair, 1814), đều làm cho mọi người phải chú ý.

            Vào năm 1815, Byron kết hôn với cô Anne Isabella Milbanke, họ có một con gái tên là Ada nhưng gia đình này không được hòa thuận bởi vì có tin đồn rằng Byron đã phạm tội vô luân khi kết hôn với người em gái cùng cha khác mẹ tên là Augusta Leigh. Byron rời nước Anh vĩnh viễn vào năm 1816.

            Byron đã trải qua nhiều tháng trường tại Thụy Sĩ, nơi đây ông gặp nhà thơ Percy Bysshe Shelley. Byron sau đó định cư tại nước Ý và đã có mối tình với bà Bá Tước Teresa Guiccioli, rồi về sau cũng tham gia vào cuộc cách mạng của nước Ý.

            Byron cũng viết ra các kịch thơ như “Manfred” (1817) và “Cain” (1821). Công trình thơ văn cuối cùng của Byron là tập thơ dài anh hùng ca chưa hoàn thành “Don Juan”. Vào năm 1823, khi đang viết dở dang tập thơ Don Juan, Byron tham gia vào chiến tranh giành độc lập của người Hy Lạp chống lại các người Thổ Nhĩ Kỳ (Turks), nhưng sau một thời gian ngắn mắc bệnh, Byron qua đời vào ngày 19/4/1824 tại Missolonghi, nước Hy Lạp.

2/ Các Thơ Phú của Lord Byron.

            Tập thơ đầu tiên có tên là “Hours of Idleness” (Các Giờ  Nhàn Rỗi, 1807) bao gồm các lời thơ lãng mạn và trí thức của nhà thơ trẻ tuổi, nhưng trong tập thơ “English Bards and Scotch Reviewers” (Các Thi Sĩ Anh và các Nhà Phê Bình Tô Cách Lan, 1809), Byron đã dùng thể văn châm biếm, chỉ trích, của nhà thơ Alexander Pope trong tập thơ “Dunciad”.

            Hai tập thơ ngắn đầu tiên của Quyển Thơ “Childe Harold’s Pilgrimage” (Cuộc Hành Hương của Childe Harold, 1812) gồm các lời thơ ẩn dụ, giả tưởng, dùng tới các đoạn thơ và các nét văn chương của nhà thơ Edmund Spencer trong thời đại Elizabeth.

            Tác phẩm “Turkish Tales” (Các Truyện Thổ Nhĩ Kỳ, 1813-16) mang đặc tính được gọi là “nét anh hùng Byron” (the Byronic hero). Các đặc tính của loại anh hùng này là u sầu, thách đố, tự tin một cách hãnh diện. Trong hai tập thơ ngắn số III (Canto III, 1816) và số IV (Canto IV, 1818), Byron đã nhận mình là Harold qua đó trình bày sự mất mát và thách thức mà nhà thơ đã cảm thấy khi sinh sống ở nước ngoài.

            Trong các năm về cuối, Byron đã viết ra nhiều loại văn thơ, chẳng hạn như các bi kịch lịch sử và dựa theo Thánh Kinh, như “Sardanapalus” (1821) và “Cain”. Nhưng tác phẩm chính của thời kỳ sinh sống tại nước Ý là tập thơ dài “Don Juan”, trong đó người kể truyện có tinh thần tự do, tự mâu thuẫn, với giọng văn thay đổi vừa tình cảm, vừa châm chọc, vừa tự tin… , rồi trong thơ phú của Byron, sự khinh thường (scorn) là sức mạnh chính được mô tả từ lúc khởi đầu tới thời kỳ cuối cùng của nhà thơ Byron./.

3/ Bài Thơ “Love” của Lord Byron và phần chuyển ngữ của Nhà Thơ Hà Bỉnh Trung.

 A/ Phần tiếng Anh.

 LOVE

Yes, love indeed is light from heaven

A spark of that immortal fire

With angels shared, by Alla given,

To lift from earth our low desire.

Devotion wafts the mind above

But heaven itself descends in love;

A feeling from the Godhead caught,

To ear from self each sordid thought;

A ray of Him who formed the whole

A glory circling round the soul!

Lord Byron.

(Tranh của Họa Sĩ P. Nedsinov)

 

B/ Phần Chuyển Ngữ.

 Tình Yêu.

Vâng, thưa đúng thế thưa người

Tình yêu là ánh sáng trời anh linh,

Một tia lửa tự lửa tình

Muôn đời bất diệt trời dành vẹn nguyên,

Những cơn mê vọng thấp hèn

Thiên thần chia sẻ vượt trên cõi trần.

Lòng tin hướng thượng tin thần

Nhưng Trời lại tự xuống gần nhân duyên;

Cảm thông ý Chúa Bề Trên

Xin từ bỏ những cuồng điên tục trần;

Xin nhờ ánh sáng hồng ân

Hào quang vinh dự sáng ngần hồn ta!

Hà Bỉnh Trung (chuyển ngữ)

4/ Bài thơ “So We’ll Go No More A Roving” của Lord Byron và phần thơ chuyển ngữ của Nhà Thơ Tâm Minh Ngô Tằng Giao.

 A/ Phần Tiếng Anh.

 So We’ll Go No More A Roving.

 So we’ll go no more a roving

So late into the night,

Though the heart be still as loving

And the moon be still as bright.

For the sword outwears its sheath,

And the soul wears out the breast,

And the heart must pause to breathe,

And Love itself have rest.

Though the night was made for loving

And the day returns too soon,

Yet we’ll go no more a roving

By the light of the moon.

Lord Byron.

(Tranh của Họa Sĩ P. Nedsinov)

B/ Phần Thơ Chuyển Ngữ.

Rong Chơi Chi Nữa Đôi Ta.

Rong chơi chi nữa đôi ta

Dưới trời khuya khuắt nhạt nhòa bóng đêm,

Dù tình vẫn rộn con tim,

Và trăng còn sáng êm đềm trên cao.

Bởi vì kiếm đã mòn bao,

Và tâm hồn đã hanh hao lòng người,

Tim cần đôi lúc thảnh thơi,

Ngày thuyền tình cũng có thời thả neo.

Dù đêm dành để thương yêu,

Và ngày vội vã về gieo ánh hồng,

Đôi ta tuy vẫn mặn nồng

Lang thang chi nữa dưới vầng trăng treo.

Tâm Minh Ngô Tằng Giao  (chuyển ngữ)

 

Phạm Văn Tuấn biên khảo.

(Dec. 2016)

 

 

 

Rene Francois Sully Prudhomme (1839 – 1907) Văn Hào Pháp Lãnh Giải Thưởng Nobel Văn Chương đầu tiên

Phạm Văn Tuấn

Rene Francois Armand Sully Prudhomme là nhà thơ và nhà viết bình luận người Pháp. Ông là thi nhân lãnh Giải Thưởng Nobel Văn Chương đầu tiên vào năm 1901.

Sully Prudhomme trước tiên theo học ngành kỹ sư rồi chuyển sang bộ môn triết học và thơ phú. Ông liên hệ với trường phái Parnassus nhưng các tác phẩm của ông mang các đặc tính riêng.

1/ Cuộc đời của nhà thơ Sully Prudhomme. 

            Sully Prudhomme là con trai của một chủ tiệm tạp hóa, đã theo học trường trung học Bonaparte nhưng vì mắt kém nên ông đã bỏ dở việc học rồi làm việc trong xưởng đúc thép Schneider trong miền Creusot, sau đó lại theo học luật tại một văn phòng chưởng khế.

Sully Prudhomme là hội viên của một hội sinh viên đặc biệt có tên là “Conference La Bruyere” (hội Thảo Luận La Bruyere), hội này đã khuyến khích ông đi vào con đường văn thơ.

Tập thơ đầu tiên của Sully Prudhomme có tên là “Stances et Poems” (Stanzas and Poems, 1865 = Thơ tứ tuyệt và thơ) đã được nhà thơ Sainte-Beuve khen ngợi. Trong tập thơ này có bài thơ nổi tiếng nhất của tác giả: Le Vase brisé (Chiếc Bình rạn vỡ).

Trước khi cuộc chiến tranh Pháp Phổ bùng nổ (the Franco-Prussian War), Sully Prudhomme đã cho phổ biến nhiều bài thơ rồi ông đã thảo luận về cuộc chiến tranh qua hai tác phẩm “Impressions de la guerre” (Cảm tưởng về chiến tranh, 1872) và “La France” (Nước Pháp, 1874).

Trong thời gian làm thơ, Sully Prudhomme đã dần dần chuyển từ thể văn tình cảm sang thể văn có tính cách cá nhân hơn do phối hợp hình thức của trường phái Parnassus với sở thích về triết học và khoa học. Cảm hứng này thấy rõ khi Sully Prudhomme dịch thơ của Lucretius trong tác phẩm “De rerum natura”.

Đường lối triết học của Sully Prudhomme được diễn tả trong hai cuốn sách “La Justice” (Công Lý, 1878) và “Le Bonheur” (Hạnh Phúc, 1888).

Vào năm 1881, Sully Prudhomme được bầu vào Hàn Lâm Viện Pháp Quốc (Academie francais) rồi qua năm 1895, ông nhận đựoc danh dự Hiệp Sĩ (Chevalier de la Légion d’honneur).

Sau tác phẩm “Le Bonheur” (Hạnh Phúc), Sully Prudhomme chuyển từ thơ phú sang các bài bình luận (essays) về thẩm mỹ học (aesthetics) và triết học (philosophy). Ông cho phổ biến hai bài bình luận quan trọng, đó là “L’Expression dans les beaux-arts” (sự diễn đạt trong nghệ thuật, 1884) và “Réflexions sur l’art des vers” (Suy nghĩ về nghệ thuật của các câu thơ, 1892). Sully Prudhomme còn viết một loạt bài báo về Blaise Pascal trong tạp chí “La Revue des deux Mondes” (Tạp chí hai thế giới, 1890) cũng như trong tạp chí “Revue de métaphysique et de morale” (Tạp chí siêu hình và đạo đức, 1906).

Vào năm 1901, Sully Prudhomme lãnh được Giải Thưởng Nobel Văn Chương, với lời ca ngợi như sau: “công nhận đặc biệt về cách bố cục thơ của ông, đây là sự hiển nhiên về lý tưởng cao cả, sự toàn hảo nghệ thuật và sự phối hợp hiếm thấy vì các phẩm chất cả về tấm lòng lẫn trí thức” (in special recognition of his poetic composition, which gives evidence of lofty idealism, artistic perfection and a rare combination of the qualities of both heart and intellect).

Sully Prudhomme đã dùng phần lớn của số tiền thưởng cao quý này để tạo nên một giải thưởng thơ do Hội Các Văn Nhân (La Societé des gens de lettres). Vào năm 1902, Sully Prudhomme cũng thành lập Hội Các Nhà Thơ Pháp (La Société des poèts francais) với Jose-Maria de Heradia và Leon Dierx.

Do sức khỏe suy kém từ năm 1870, Sully Prudhomme phải sinh sống như một người ẩn dật tại Chartenay-Malabry, rồi ông bị liệt trong khi đang viết các bài luận văn. Sully Prudhomme đột ngột qua đời vào ngày 6 tháng 9 năm 1907, rồi được chôn cất tại nghĩa trang Père-Lachaise trong thành phố Paris.

2/ Phần Thơ tiếng Pháp.

 LE VASE BRISÉ

Le vase où meurt cette verveine

D’un coup d’éventail fut fêlé;

Le coup dut l’effleurer à peine,

Aucun bruit ne l’a révélé.

Mais la légère meurtrissure,

Mordant le cristal chaque jour,

D’une marche invisible et sûre

En a fait lentement le tour.

Son eau fraîche a fui goutte à goutte,

Le suc des fleurs s’est épuisé;

Personne encore ne s’en doute:

N’y touchez pas, il est brisé.

Souvent aussi la main qu’on aime,

Effleurant le coeur, le meurtrit;

Puis le coeur se fend de lui-même,

La fleur de son amour périt.

Toujours intact aux yeux du monde,

Il sent croître et pleurer tout bas

Sa blessure fine et profonde;

Il est brisé, n’y touchez pas.

Sully Prudhomme.

pvt2

(Tranh Van Gogh)

 3/ Phần Thơ Chuyển Ngữ của Nhà Thơ Nguyễn Thị Ngọc Dung.

BÌNH HOA RẠN VỠ

Cỏ tiên héo úa trong bình,

Quạt hương thơm ngát vô tình lướt qua,

Dù không rung động cành hoa,

Mà nghe rạn nứt, xót xa tủi hờn.

Nhẹ nhàng như cánh bướm vờn,

Ngày trôi xuyên lịm tím hồn pha lê,

Trăm đường vạch cắt lê thê,

Vết thương gậm nhấm ê chề đậm sâu.

Âm thầm cạn rỉ giọt sầu,

Mật hoa khô héo vương màu phôi phai,

Hững hờ tri kỷ nào ai,

Bình hoa rạn vỡ, chớ hoài chạm thêm.

Bàn tay măng nõn nà êm,

Ơ thờ mơn chớn, rũ mềm nỗi yêu,

Tâm tư day dứt cô liêu,

Hoa lòng ngập phủ tiêu điều mộ tim.

Vẹn nguyên qua mắt thường tình,

Buồn thêm tê tái, lệ mình tuôn rơi,

Niềm đau vực thẳm rã rời,

Trái tim tan nát, xin người buông tha.

NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG (chuyển ngữ)

4/ Phần Thơ tiếng Pháp: Rosées.

Rosées

Je rêve, et la pâle rosée

Dans les plaines perle sans bruit,

Sur le duvet des fleurs posée

Par la main fraîche de la nuit.

D’où viennent ces tremblantes gouttes?

Il ne pleut pas, le temps est clair;

C’est qu’avant de se former, toutes,

Elles étaient déjà dans l’air.

D’où viennent mes pleurs? Toute flamme,

Ce soir, est douce au fond des cieux;

C’est que je les avais dans l’âme

Avant de les sentir aux yeux.

On a dans l’âme une tendresse

Où tremblent toutes les douleurs,

Et c’est parfois une caresse

Qui trouble, et fait germer les pleurs.

Sully Prudhomme.

pvt3   

5/ Phần Thơ Chuyển Ngữ của Nhà Thơ Tâm Minh Ngô Tằng Giao.

NHỮNG GIỌT SƯƠNG

Ta mơ, sương giọt mong manh

Trong đồng cỏ biếc long lanh im lìm,

Đọng trên những cánh hoa hiền

Đêm vươn tay mát dịu êm đặt vào.

Nhẹ rung sương đến từ đâu?

Trời mây quang đãng, mưa nào tuôn rơi;

Trước khi giọt đọng muôn nơi

Từng không sương đã buông lơi chập chùng.

Bởi đâu lệ chợt trào dâng?

Chiều nay lửa ấm khắp vầng trời cao;

Vì hồn ta lệ sẵn trào

Trước khi cảm thấy giọt sầu hoen mi.

Hồn người êm ái xuân thì

Nơi đây xao động sầu bi cũng nhiều,

Đôi khi ve vuốt thương yêu

Vẫn gây phiền não, vẫn khêu lệ tràn.

Tâm Minh Ngô Tằng Giao (chuyển ngữ, 11-2016)

Phạm Văn Tuấn biên khảo./.

 

Joseph Rudyard Kipling (1865 – 1936) Văn Hào của Nước Anh Lãnh Giải Thưởng Nobel Văn Chương Năm 1907

Phạm Văn Tuấn

Rudyard Kipling

Rudyard Kipling

Joseph Rudyard Kipling là nhà văn kiêm nhà thơ người Anh, ra đời tại nước Ấn Độ, nổi tiếng về các truyện trẻ em của ông như The Jungle Book (Truyện Rừng Xanh, 1894), The Second Jungle Book (Truyện Rừng Xanh Thứ Hai, 1895), Just So Stories (Các Truyện Như Vậy, 1902), Puck of Pook’s Hill (Ngọn Đồi của Pook, 1906), cuốn tiểu thuyết Kim (1901), các bài thơ Mandalay (1890), Gunga Din (1890) và If (Nếu, 1910)…

Kipling được coi là nhà văn cải tiến về nghệ thuật của truyện ngắn, các truyện trẻ em của ông thuộc loại văn chương thiếu nhi cổ điển. Kipling là một trong các nhà văn người Anh được mọi người biết tới nhiều nhất, cả về văn xuôi lẫn thơ phú, trong cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Nhà văn danh tiếng Henry James đã nói về Kipling như sau: “Kipling gây ấn tượng tới cá nhân tôi như là một thiên tài toàn hảo nhất mà tôi đã từng biết“.

Vào năm 1907, Kipling được trao tặng Giải Thưởng Nobel Văn Chương, ông là nhà văn viết tiếng Anh đầu tiên lãnh nhận Giải Thưởng cao quý này và cho tới ngày nay, là nhà văn trẻ nhất lãnh được vinh dự đó. Ngoài ra, Kipling còn được bầu là Thi Sĩ Khôi Nguyên của nước Anh (the British Poet Laureateship) và nhiều lần ông được đề nghị trao tặng tước vị Hiệp Sĩ (Knighthood) nhưng tất cả các danh vọng này đã bị ông từ chối.

Vào lúc cuối cuộc đời, Kipling được nhiều người coi là “nhà tiên tri của chủ nghĩa Đế Quốc Anh (a prophet of British imperialism), theo như lời của nhà văn George Orwell. Người ta đã tìm thấy trong các tác phẩm của ông các thành kiến và chủ nghĩa quân phiệt (militarism) và cuộc tranh luận này đã kéo dài trong thế kỷ 20. Theo nhà phê bình Douglas Derr: “Khi chủ nghĩa đế quốc của châu Âu thoái hóa thì Kipling được coi là người có một không hai, ngay cả khi gây tranh luận, đã diễn tả đế quốc đã trải qua các kinh nghiệm như thế nào“.

1/ Thời niên thiếu của Joseph Rudyard Kipling.

             Rudyard Kipling sinh vào ngày 30 tháng 12 năm 1865 tại Bombay, nước Ấn Độ thời đó còn là thuộc địa của nước Anh, là con của ông John Lockwood Kipling và bà  Alice Kipling, với tên con gái là Alice MacDonald. Bà Alice là một phụ nữ hoạt bát còn ông Lockwood là một nhà điêu khắc, nhà vẽ kiểu đồ gốm, hiệu trưởng và giáo sư về điêu khắc kiến trúc (architectural sculpture) tại ngôi trường mới được thành lập tại Bombay, có tên là Trường Nghệ Thuật và Kỹ Nghệ Jejeebhoy (The Jejeebhoy School of Art and Industry).

            Trước kia, hai ông bà Lockwood đã gặp nhau bên bờ Hồ Rudyard thuộc miền thôn dã Staffordshire, nước Anh, họ đã say sưa với phong cảnh hữu tình của hồ nước nên họ đã đặt tên của người con đầu lòng là Rudyard Kipling.

            Kipling được cha mẹ nuôi nấng tại Bombay cho tới khi lên 6 tuổi thì theo tập tục của các người Anh làm việc tại Ấn Độ, Kipling và cô em gái Alice, còn được gọi là Trix, được gửi về nước Anh, cư ngụ tại Southsea (Portsmouth), sinh sống trong một gia đình nhận nuôi giữ các trẻ con mà cha mẹ ở nước ngoài. Hai đứa trẻ này đã lưu trú trong nhà của Đại Úy và bà Holloway tại Lorne Lodge trong 6 năm. Trong cuốn sách tự thuật mà tác giả phổ biến 65 năm về sau, Kipling đã nhớ lại thời kỳ này với sự kinh hãi bởi vì ông đã gặp cảnh tàn nhẫn và thiếu chăm sóc trong cách đối xử của bà chủ nhà Holloway. Người em gái Trix của Kipling thì cảm thấy dễ chịu hơn tại Lorne Lodge bởi vì bà Holloway muốn rằng sau này Trix sẽ kết hôn với một trong các con trai của bà ta.

            Hai đứa trẻ này cũng có các người họ hàng sinh sống tại nước Anh nhờ vậy chúng được trải qua các kỳ nghỉ Lễ Giáng Sinh với bà dì ruột tên là Georgiana (Georgy) với ông chồng là nghệ sĩ Edward Burne-Jones tại nhà của họ tên là “The Grange” (Trang Trại) tại Fulham, London, nơi đây Kipling coi là “một thiên đường đã cứu giúp tôi”.

            Vào mùa xuân năm 1877, bà mẹ Alice Kipling từ Ấn Độ trở về nước Anh nên đã dẫn hai đứa trẻ ra khỏi miền Lorne Lodge. Tới tháng 1 năm 1878, Kipling được nhận vào trường United Services College (Đại Học Tổng Hợp Công Tác) tại Westward Ho!, Devon, đây là một ngôi trường mới được thành lập vài năm về trước để chuẩn bị cho các thiếu niên bước vào nghề quân sự.

            Đầu tiên lối sống tại ngôi trường này khá cực nhọc nhưng rồi Kipling đã có vài người bạn thân và nơi đây là khung cảnh để ông viết ra các truyện dành cho con trai có tên là Stalky & Co., xuất bản nhiều năm về sau. Trong thời gian này, Kipling đã gặp rồi say mê cô Florence Garrad, một cô bạn gái của Trix, cùng cư ngụ tại Southsea, nơi mà Trix đã trở lại. Cô Florence này là nhân vật Maisie mà Kipling mô tả trong cuốn tiểu thuyết đầu tiên có tên là “The Light that failed” (Ánh Sáng không còn, 1891).

            Vào cuối thời kỳ theo học bán quân sự, Kipling đã thiếu điểm văn hóa để được nhận học bổng của trường Đại Học Oxford và do cha mẹ cũng không có đủ tiền để trợ cấp học hành cho con, vì vậy ông Lockwood Kipling đã xin cho con trai một việc làm tại Lahore (bây giờ thuộc nước Pakistan), tại nơi này, ông Lockwood là Viện Trưởng của trường Đại Học Nghệ Thuật Mayo (the Mayo College of Art) và cũng là Giám Đốc Quản Thủ Viện Bảo Tàng Lahore.

            Tại Lahore, Kipling là phụ tá chủ nhiệm của một tờ báo địa phương nhỏ có tên là “Báo Dân Sự và Quân Đội” (the Civil & Military Gazette). Tới ngày 20/9/1882, Kipling xuống tầu đi Bombay rồi tới nơi này vào ngày 18/10/1882.

2/ Các cuộc Du Lịch.

             Tờ “Báo Dân Sự và Quân Đội” tại Lahore được Kipling gọi là “người tình đầu tiên của tôi và là tình yêu thực sự nhất” (my first mistress and most true love). Tờ báo này xuất bản 6 ngày một tuần trong suốt năm và chỉ đóng cửa 2 ngày vào Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh. Kipling làm việc rất bận rộn với viên chủ nhiệm Stephen Wheeler nhưng dù thế, nhu cầu bài viết rất nhiều. Vào năm 1886, Kipling cho phổ biến tập thơ đầu tiên có tên là Departmental Ditties (các bài thơ ca ngắn cục bộ). Cũng vào năm này, tờ báo kể trên có viên chủ nhiệm mới là ông Kay Robinson, ông này đã cho phép Kipling làm việc tự do hơn và Kipling được mời đóng góp bằng các truyện ngắn cho tờ báo.

            Trước kia vào năm 1883, Kipling đã thăm viếng Simla (bây giờ là Shimla), là thủ đô Mùa Hè của Đế Quốc Anh tại Ấn Độ. Đây là trung tâm quyền lực và tiêu khiển với vị Phó Vương Ấn Độ, và chính quyền cũng di chuyển về đây trong 6 tháng. Tại Simla, ông Locwook được mời vẽ một bức tranh fresco cho nhà thờ Chúa Kitô; từ năm 1885 tới năm 1888, Kipling thường thăm viếng nơi này và đã dùng địa điểm này để viết ra 39 truyện ngăn cho tờ báo Gazette từ tháng 11 năm 1886 tới tháng 6 năm 1887. Tập truyện “Plain Tales from the Hills” (Các Truyện bình thường từ các Ngọn Đồi) được Kipling cho phổ biến tại Calcutta vào tháng 1 năm 1888, một tháng sau ngày sinh nhật thứ 22 của tác giả.

            Qua tháng 11 năm 1887, Kipling được đổi sang làm việc cho tờ báo lớn hơn tên là The Pioneer (Người Tiên Phong) tại thành phố Allahabad nhưng tác giả Kipling vẫn viết văn với tốc độ thực nhanh, nhờ vậy qua năm sau Kipling đã cho xuất bản 6 tuyển tập truyện ngắn, đó là các truyện Soldiers Three (Lính 3 Người), The Story of the Gadsbys (Truyện của Gadsbys), In the Black and White (Trong Màu Đen và Trắng), Under the Deodars, The Phantom Rickshaw (Con Ma Rickshaw) và Wee Willie Winkie, tất cả gồm 41 truyện với vài truyện khá dài.

            Ngoài ra Kipling còn làm phóng viên đặc biệt cho tờ báo The Pioneer tại miền phía tây của Raiputana, nơi đây ông đã viết ra nhiều tập phác thảo để về sau gom lại thành tập “Letters of Marque” (Các Bức Thư của Marque) rồi được phổ biến trong cuốn truyện “From Sea to Sea” (Từ Biển tới Biển) và “Letters of Travel” (Các Bức Thư Du Lịch).

            Vào đầu năm 1889, Kipling bán bản quyền của 6 bộ truyện để lấy 200 bảng Anh và bán truyện “Plain Tales” (Các Truyện Bình Thường) lấy 50 bảng, rồi tờ báo The Pioneer trả lương 6 tháng cho Kipling, dùng số tiền gom lại này, Kipling di chuyển về London bởi vì nơi đây là trung tâm văn chương của Đế Quốc Anh.

            Vào ngày 9 tháng 3 năm 1889, Kipling rời khỏi xứ Ấn Độ, đi du lịch qua Rangoon, Singapore, Hong Kong, Nhật Bản rồi tới San Francisco. Trong khi đi đường, Kipling vẫn viết các bài cho tờ báo The Pioneer, tất cả được gom lại trong tuyển tập “Letters of Travel” (Các Bức Thư Du Ngoạn). Tại Hoa Kỳ, Kipling đã thăm viếng rất nhiều nơi, đã gặp nhà văn Mark Twain tại Elmira, New York. Kipling vượt qua Đại Tây Dương, tới Liverpool vào tháng 10 năm 1889.

            Trong 2 năm kế tiếp, Kipling cho phổ biến cuốn tiểu thuyết “The Light that Failed” (Ánh Sáng không còn), đã gặp một nhà văn và cũng là nhà xuất bản tên là Wolcott Balestier, với ông này Kipling cộng tác trong cuốn tiểu thuyết “The Naulakha”.

            Qua năm 1891, Kipling đã dùng đường biển đi du lịch qua các xứ Nam Phi, Úc, Tân Tây Lan và Ấn Độ rồi ông hưởng Lễ Giáng Sinh với gia đình tại Ấn Độ. Khi nghe tin ông Balestier đột ngột qua đời vì bị bệnh sốt thương hàn, Kipling bèn trở về London nhưng trước khi đi, ông đã dùng điện tín để cầu hôn với cô em gái của ông Balestier, tên là Caroline (Carrie), đây là người thiếu nữ mà ông đã gặp 1 năm trước. Trong khi đó vào cuối năm 1891, Kipling cho xuất bản tại London truyện ngắn viết về người Anh tại Ấn Độ “Life’s Handicap” (Khuyết Tật của Đời Sống).

            Vào ngày 18/1/1892, cô Carrie Baristier (29 tuổi) và Rudyard Kipling (26 tuổi) đã thành hôn tại London, trong nhà thờ All Souls Church, Langhan Place, với Henry James là người dẫn cô dâu. Tân lang và tân giai nhân đã trải qua thời kỳ trăng mật tại Vermont, Hoa Kỳ, rồi Nhật Bản. Trong khi đang ở Yokohama, Nhật Bản, Kipling được tin ngân hàng của họ là The New Banking Corporation đã bị thất bại, vì vậy ông bà Kiping đã phải trở lại Hoa Kỳ và trong thời gian này, bà Carrie mang bầu đứa con đầu lòng, họ thuê một căn nhà nhỏ tên là Bliss Cottage, gần Brattleboro với tiền thuê một tháng là 10 đô la.

3/ Viết ra các tác phẩm danh tiếng.

             Chính tại căn nhà Bliss Cottage, đứa con gái đầu lòng Josephine ra chào đời vào ngày 29/12/1892 trong khi bên ngoài có 3 feet tuyết rơi. Cũng chính trong căn nhà nhỏ này, Kipling bắt đầu viết cuốn “The Jungle Book” (Sách Rừng Xanh).

            Bé Josephine ra đời đã làm cho căn nhà nhỏ Bliss Cottage trở nên chật hẹp, vì vậy Kipling đã mua lại của người anh vợ 10 mẫu đất nhìn xuống giòng sông Connecticut và xây cất tại nơi đây một căn nhà mà ông đặt tên là Naulakha, đây là tên của một sợi dây chuyền trong truyền thuyết của một bà hoàng hậu Ấn Độ. Căn nhà một mái này ngày nay còn tồn tại trên Đường Kipling.

            Trong cuộc sống ẩn dật tại Vermont, cùng với sức khỏe tốt, Kipling đã viết ra, ngoài cuốn truyện “The Jungle Book”, còn có tuyển tập các truyện ngắn “The Day’s Work” (Công Việc trong Ngày), cuốn tiểu thuyết “Captain Courageous” (Thuyền Trưởng Can Đảm) và rất nhiều bài thơ, gồm cả tập thơ “The Seven Seas” (Bẩy Đại Dương). Tuyển tập thơ “Barrack-Room Ballads” được xuất bản vào tháng 3 năm 1892 trong đó có hai bài thơ nổi tiếng là “Mandalay” và “Gunga Ding”.

            Trong thời gian sinh sống tại căn nhà Naulakha, Kipling đã gặp lại cha là ông Lockwood khi ông về hưu năm 1898, gặp Arthur Conan Doyle và nhà văn này đã dạy cho Kipling cách đánh golf. Nhưng Kipling ưa thích nhất là phong cảnh tuyệt vời của miền Vermont khi là vàng rực rỡ lúc mùa Thu sang. Vào tháng 2 năm 1896, đứa con gái thứ hai tên là Elsie ra đời nhưng gia đình của Kipling đã gặp cảnh bất hòa.

            Vào khoảng năm 1890, nước Anh và xứ Venezuela đã tranh chấp nhau vì miền Guiana thuộc Anh, rồi sau đó, vị Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ lại can thiệp vào vụ xung đột khiến cho hai nước Anh và Mỹ chuẩn bị chiến tranh. Cuộc khủng hoảng này khiến cho Kipling bị ngỡ ngàng trước các tình cảm chống Anh tại Hoa Kỳ.

            Về gia đình bên vợ, người anh Beatty bất hòa với em gái là Carrie. Tới tháng 5/1896, ông Beatty này say rượu, đã gặp Kipling ở ngoài đường phố và muốn hành hung người em rể, nên bị bắt. Tới tháng 7/1896, một tuần lễ trước khi vụ xử tiếp tục thì gia đình Kipling đã đóng hành lý, từ bỏ căn nhà Naulakha, Vermont, rồi vĩnh viễn rời Hoa Kỳ.

            Trở lại nước Anh vào tháng 9 năm 1896, gia đình Kipling cư ngụ tại Torquay trên bờ biển Devon, một nơi sườn đồi nhìn ra biển. Kipling bây giờ đã là một nhân vật danh tiếng, thường viết các bài báo mang tính cách chính trị. Hai bài thơ “Recessional” (Bài thơ cuối lễ, 1897) và “The White Man’s Burden” (Gánh Nặng của người Da Trắng, 1899) đã tạo nên cuộc tranh cãi khi phổ biến. Vài người cho rằng các bài thơ này có tính cách tuyên truyền cho chế độ đế quốc và các thái độ kỳ thị chủng tộc.

            Trong thời gian sinh sống tại Torquay, Kipling đã viết cuốn truyện “Stalky & Co.”, đây là tuyển tập các truyện về trường học gồm các kinh nghiệm của tác giả tại trường The United Services College ở Westward Ho! Theo gia đình tác giả kể lại sau này, Kipling thường đọc lại vài mẩu truyện rồi cười lớn về cách pha trò của mình.

            Vào đầu năm 1898, Kipling và gia đình thường đi du lịch qua xứ Nam Phi (South Africa), đây là thói quen đi chơi vào mùa đông kéo dài tới năm 1908. Với danh tiếng là nhà thơ của Đế Quốc (the poet of empire), Kipling được tiếp đón bởi các chính trị gia mạnh thế nhất tại Cape Colony, gồm có Cecil Rhodes, Sir Alfred Milner và Leander Starr Jameson. Ngược lại, Kipling cũng rất khâm phục 3 vị này với đường lối chính trị của họ.

            Thời kỳ 1898 – 1910 là giai đoạn lịch sử của xứ Nam Phi, kể cả cuộc chiến tranh Boer thứ hai (the Second Boer War, 1899-1902), tiếp theo là hiệp ước hòa bình và việc thành lập xứ Đoàn Kết Nam Phi (the Union of South Africa) vào năm 1910.

            Trở lại nước Anh, Kipling viết ra các bài thơ ủng hộ lý do của nước Anh trong cuộc chiến tranh Boer rồi một cuộc viếng thăm Nam Phi vào đầu năm 1900 đã khiến cho Kipling bắt đầu làm tờ báo “The Friend” (Bạn Hữu) dành cho quân đội Anh tại Bloemfontein, một thủ đô mới chiếm được của xứ Orange Free State.

            Kipling bắt đầu thu gom tài liệu để viết ra một truyện trẻ em cổ điển có tên là “Just So Stories for Little Children” (Các Truyện dành cho Trẻ Em nhỏ), tác phẩm này được phổ biến vào năm 1902, rồi tới cuốn truyện dài “Kim”.

            Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vào năm 1899, Kipling và người con gái lớn Josephine đã bị sưng phổi rồi sau đó, Josephine đã qua đời.

            Về phạm vi không giả tưởng, Kipling liên quan tới cuộc tranh luận về cách nước Anh đối phó với sự tiến triển của lực lượng Hải Quân Đức. Loạt bài viết này được ông cho phổ biến vào năm 1898 bằng cuốn sách A Fleet in Being (Hạm Đội đang hình thành).

            Vào thập niên thứ nhất của Thế Kỷ 20, Kipling ở đỉnh cao của danh vọng khi ông được trao Giải Thưởng Nobel Văn Chương vào năm 1907. Ủy Ban Nobel đã dẫn chứng về tác giả như sau: “Cứu xét về năng lực quan sát, nguồn gốc của trí tưởng tượng, sức mạnh của các ý tưởng và tài năng đáng kể về kể chuyện, và đây là đặc tính sáng tạo của tác giả danh tiếng này trên thế giới” (in consideration of the power of observation, originality of imagination, virility of ideas and remarkable talent for narration which characterize the creations of this world-famous author).

            Các Giải Thưởng Nobel được thành lập vào năm 1901 và Joseph Rudyard Kipling là tác giả người Anh đầu tiên được nhận lãnh danh dự này. Vào Buổi Lễ Phát Giải tại thành phố Stockholm ngày 10/12/1907, ông Tổng Thư Ký của Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã ca ngợi Tác Giả Rudyard Kipling cùng với 3 thế kỷ của nền Văn Chương Anh Quốc.

            Vào năm 1910, Kipling cho xuất bản tập thơ Rewards and Fairies (Các Phần Thưởng và các Nàng Tiên) trong dó có bài thơ “If – ” (Nếu – ). Bài thơ này được coi là nổi tiếng nhất của tác giả.

            Trong Thế Chiến Thứ Nhất, Kipling đã gặp thảm cảnh là đứa con trai duy nhất của ông tên là John đã bị tử trận vào năm 1915 trong Trận Loos (the Battle of Loos). Do thảm cảnh này, Kipling đã tham gia với Sir Fabian Ware vào Ủy Ban của Các Ngôi Mộ Chiến Tranh của Đế Quốc Anh (the Imperial War Graves Commission), bây giờ được đổi tên thành “Ủy Ban của các Ngôi Mộ Chiến Tranh của Khối Thịnh Vượng Chung” (the Commonwealth War Graves Commission).

            Vào năm 1922, Kipling đã dùng các bài viết và các bài thơ phú để nói về các công trình của các kỹ sư của trường Đại Học Toronto, Canada, rồi ông trở nên Viện Trưởng của Đại Học Saint Andrew (Lord Rector of St. Andrew University) tại Tô Cách Lan (Scotland), một chức vụ tới năm 1925.

            Rudyard Kipling qua đời vì bị ung thư cuống bao tử (duodenal ulcer) vào ngày 18/1/1936, thọ 70 tuổi. Cốt tro của Kipling được chôn tại Góc của các Nhà Thơ (the Poets’ Corner) trong Tu Viện Wesminster Abbey, tại nơi này nhiều Văn Nhân danh tiếng của nước Anh được an nghỉ và tưởng niệm.

4/ Ảnh Hưởng của Nhà Văn Kipling.

            Các bài viết và các bài thơ của Rudyard Kipling thường diễn tả các quan điểm xã hội và chính trị của tác giả và nhiều người đã chỉ trích các quan điểm này là kỳ thị chủng tộc (racist), chẳng hạn trong Tập Thơ Recessional (Bài thơ cuối lễ), các người dân thuộc địa bị coi là “nửa ác quỷ và nửa trẻ con” (half-devil and half-child). Các bài viết của Kipling trước Thế Chiến Thứ Nhất bị coi là mang giọng điệu “đế quốc” (imperialist tone). Các truyện và thơ của Kipling, ngoại trừ các truyện trẻ em, đã bị cấm đoán tại nước Ấn Độ, ngoài công việc dùng để tìm hiểu chủ nghĩa đế quốc (imperialism).

            Về một phương diện khác, ông Baden-Powell, người sáng lập ra Hướng Đạo Quốc Tế (Scouting) đã dùng nhiều đề tài trong cuốn truyện “Sách Rừng Xanh” (The Jungle Book) và truyện “Kim” của Kipling để thiết lập các sói con (the wolf cubs). Ngoài ra, cuốn “Sách Rừng Xanh” còn được chuyển thành nhiều bộ phim ảnh đầu tiên bởi nhà sản xuất Alexander Korda, rồi về sau do Công Ty Walt Disney.

5/ Bài Thơ If- , Bản Tiếng Anh.

If…

If you can keep your head when all about you

    Are losing theirs and blaming it on you,

If you can trust yourself when all men doubt you,

    But make allowance for their doubting too;

If you can wait and not be tired by waiting,

    Or being lied about, don’t deal in lies,

Or being hated, don’t give way to hating,

    And yet don’t look too good, nor talk too wise:

If you can dream—and not make dreams your master;

    If you can think—and not make thoughts your aim;

If you can meet with Triumph and Disaster

    And treat those two impostors just the same;

If you can bear to hear the truth you’ve spoken

    Twisted by knaves to make a trap for fools,

Or watch the things you gave your life to, broken,

    And stoop and build ’em up with worn-out tools:

If you can make one heap of all your winnings

    And risk it on one turn of pitch-and-toss,

And lose, and start again at your beginnings

    And never breathe a word about your loss;

If you can force your heart and nerve and sinew

    To serve your turn long after they are gone,

And so hold on when there is nothing in you

    Except the Will which says to them: ‘Hold on!’

If you can talk with crowds and keep your virtue,

    Or walk with Kings—nor lose the common touch,

If neither foes nor loving friends can hurt you,

    If all men count with you, but none too much;

If you can fill the unforgiving minute

    With sixty seconds’ worth of distance run,

Yours is the Earth and everything that’s in it,

    And—which is more—you’ll be a Man, my son!

RUDYARD KIPLING (1865 -1936)‏

6/ Bài Thơ “Nếu…”, Thơ Chuyển Ngữ của Nhà Thơ Tâm Minh Ngô Tằng Giao.

 Nếu…

Nếu con tự tại an nhiên

Khi người chao đảo và phiền trách con;

Nếu con tin tưởng mình luôn

Mặc người nghi kỵ không buồn tin con;

Nếu con quyết chí chờ trông,

Hay người gian dối, mình không theo người,

Ai sân hận, mình thảnh thơi,

Không khoe bản ngã, không lời tự kiêu;

Nếu con mơ ước đủ điều

Không sùng bái mộng, sớm chiều buông lơi;

Nếu con suy nghĩ chuyện đời

Không dùng, lại bỏ ra ngoài mục tiêu;

Nếu con đối xử hai điều

Thành Công, Hoạn Nạn đồng đều như nhau;

Nếu con nhẫn nhục trước sau

Nghe chân lý vốn từ lâu đẹp lời

Nay phường gian xảo dong chơi

Cố tình xuyên tạc bẫy người vô minh;

Hay con nhìn sự nghiệp mình

Cả đời xây dựng, tan tành phút giây,

Và con quyết tạo lại ngay

Dù không phương tiện, trắng tay, tiêu điều;

 

Nếu thâu góp của rất nhiều

Đỏ đen nướng hết khi liều ăn thua

Rồi con khởi nghiệp như xưa

Không than tài sản mình vừa tiêu tan;

Nếu con tâm trí lỡ làng

Sức tàn, lực kiệt chẳng màng làm chi,

Rồi vươn lên tiếp bước đi

Giữ nguyên Ý Chí kiên trì: “Quyết tâm!”

 

Nếu con đạo hạnh vẹn phần,

Không phân Vua hoặc thường dân cận kề;

Nếu thù hay bạn đôi bề

Khó làm con bị não nề tổn thương,

Nếu người tính toán đủ đường

Nhưng con vẫn thấy tầm thường đáng chi;

Nếu từng phút lãng trôi đi

Con đều tận dụng không hề bỏ qua;

Thì con ơi, cõi Ta Bà

Cùng muôn sự vật: con là chủ nhân

Và hơn nữa quý bội phần

Con sẽ là kẻ Thành Nhân con à!

Tâm Minh NGÔ TẰNG GIAO (chuyển ngữ)

Phạm Văn Tuấn biên khảo./.

BORIS L. PASTERNAK (1890 – 1960) Nhà Văn, Nhà Thơ Nga trong thời đại Stalin Lãnh Giải Thưởng Nobel Văn Chương Năm 1958

Phạm Văn Tuấn

http://to-name.ru/

1/ Nhà Thơ kiêm Nhà Văn Boris L. Pasternak.
Boris Leonidovich Pasternak chào đời vào ngày 10 tháng 2 năm 1890, là con trai của họa sĩ Leonid Pasternak, giáo sư của trường Mỹ Thuật Moscow, và bà Rosa Kaufmann, một nhạc sĩ dương cầm có tài. Boris đã trải qua thời niên thiếu trong một gia đình gốc Do Thái thấm nhuần văn hóa và nghệ thuật cao. Tài năng ban đầu của Boris thể hiện trong phạm vi Âm Nhạc. Boris đã đam mê các nhạc phẩm của Scriabine rồi vào tuổi 19, dồn thời giờ theo học bộ môn sáng tác nhạc trong 6 năm, nhưng khi bước chân vào đại học Moscow, Boris đã ưa thích môn Triết Học, đã theo học các khóa hè với giáo sư Hermann Cohen, một người theo trường phái Triết Học Kant Mới (néo-Kantien).
Boris Pasternak cũng thán phục các nhà văn biểu tượng A. Blok và A. Biely nên vào năm 1913, đã tham gia vào nhóm thi sĩ thuộc trường phái “Tương Lai” (futurism) có tên là “Ly Tâm” (Centrifuge) và do ở trong nhóm thi sĩ này, Pasternak đã cho ra đời tập thơ đầu tay có tên là “Người sinh đôi ở trong mây” (The Twin in the Clouds, 1914). Các vần thơ của Pasternak rất đặc sắc nhờ ngữ vựng phong phú, âm điệu mới mẻ, tiết điệu thay đổi, nhiều lặp âm (alliterations) và cách diễn tả các hình ảnh giống như của Maiakovski là thi sĩ mà Pasternak rất thán phục và chịu ảnh hưởng.
Trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Nhất, Boris Pasternak đã làm việc trong một nhà máy hóa chất thuộc miền núi Urals, rồi sau cuộc Cách Mạng Cộng Sản 1917, ông phục vụ tại một thư viện của bộ Giáo Dục.
Boris Pasternak đã cho xuất bản các thi tập tiếp theo: “Vượt qua các trở ngại” (Over the Barriers, 1917), “Em tôi, cuộc đời” (My sister, Life, 1922), và “Sinh lần thứ hai” (Second Birth, 1932) qua đó thể hiện các ảnh hưởng của trường phái biểu tượng (symbolism) của thế kỷ 19 với cách chú trọng vào các tính bí ẩn, ấn tượng và thẩm mỹ, tuy nhiên cũng mang các đặc tính canh tân với cách phối hợp các hình ảnh và cách tới gần lịch sử và thiên nhiên.
Các thi phẩm của Boris Pasternak đã chứng tỏ ông là một nhà thơ xuất sắc, tuy nhiên các nhà phê bình văn học cộng sản Liên Xô đã khiển trách ông là thơ phú của ông đã không theo đúng các kiểu mẫu của trường phái hiện thực xã hội chủ nghĩa (socialist realism), vì vậy sau năm 1932, chỉ có hai tập thơ của Boris Pasternak xuất hiện: “Trên chuyến tầu sớm” (On Early Trains, 1943) và “Khoảng trống địa cầu” (The Terrestrial Expanse, 1945).
Vào thập niên 1930, nhất là vào các năm 1936-38, các khủng bố của chính quyền Stalin đã hành hạ các nhà văn và nhà thơ vì họ đã không theo đúng các giáo điều nghiêm khắc của đảng Cộng Sản, đặc biệt là nhóm thi sĩ miền Georgia mà Pasternak là một thành viên vào năm 1931. Người ta cho rằng trong thời kỳ thanh trừng đỏ của Stalin, Boris Pasternak được an toàn bởi vì ông đã chuyển ngữ một số bài thơ của Stalin viết bằng tiếng địa phương Georgia. Trước các đe dọa, ông Pasternak đành phải im tiếng, không sáng tác thơ văn, dành thời giờ vào công việc dịch thuật các tác phẩm của Keats, Shelley, Verlaine, Petrofi, rồi trong khoảng thời gian từ năm 1941 tới năm 1949, ông đã chuyển dịch 6 bi kịch lớn của Shakespeare cùng tác phẩm Faust của Goethe, tác phẩm Marie Stuart của Schiller, cũng như các tác phẩm của nhiều nhà văn, nhà thơ người Đức, người Anh khác.
Chính trong bầu không khí khủng bố và nghi kỵ của thời đại Stalin, Boris Pasternak đã phác thảo một cuốn tiểu thuyết duy nhất bắt nguồn từ các suy nghĩ đã có trước cuộc Thế Chiến Thứ Hai: “Bác Sĩ Zhivago” (Dr. Zhivago, 1957). Iouri Zhivago là một y sĩ người Nga đã trải qua nhiều kinh nghiệm đau đớn và rối loạn trong thời kỳ Cách Mạng của đất nước. Ông ta là một nhà trí thức, do tấm lòng thành thực, do niềm tin tôn giáo và tinh thần độc lập, đã xung khắc với lý thuyết và cách thi hành tàn bạo của chế độ Cộng Sản. Iouri Zhivago không thể chấp nhận các luật lệ nghiêm khắc của chế độ này, nên đã cố gắng đi tìm hạnh phúc trong tình yêu và trong vẻ đẹp của thiên nhiên. Ioui Zhivago cũng là một nhà thơ, vì vậy các câu thơ đã chiếm một phần tác phẩm.
“Bác Sĩ Zhivago” là một cuốn tiểu thuyết lịch sử và xã hội, mang tính cách trở về với truyền thống hiện thực, đã trình bày một toàn cảnh của xã hội Nga vào thời kỳ của cuộc Cách Mạng Cộng Sản 1917. Do chỉ trích chế độ Cộng Sản, cuốn tiểu thuyết “Bác Sĩ Zhivago” của Boris Pasternak bị các nhà phê bình Xô Viết tố cáo là “đã phỉ báng cuộc Cách mạng Tháng 10, nói xấu nhân dân và cách xây dựng xã hội của Liên Xô”, đồng thời các nhà xuất bản từ chối ấn hành tác phẩm, tác giả Pasternak bị trục xuất khỏi Hội Các Nhà Văn Xô Viết (the Soviet Writers Union) nhưng tác phẩm này đã được đưa lén qua Phương Tây và chuyển dịch sang 18 ngôn ngữ khác. Cuốn tiểu thuyết “Bác Sĩ Zhivago” này trở nên một tác phẩm quốc tế bán chạy nhất (an international best-seller) nhưng chỉ được lưu hành trong bí mật trên miền đất quê hương của tác giả.
Vào năm 1958, Boris Pasternak được trao tặng Giải Thưởng Nobel về Văn Chương, nhưng ông đã bị các nhà văn Xô Viết khác coi là một kẻ phản bội. Sau khi đã tuyên bố công khai rằng ông không muốn đi sống lưu vong, Boris Pasternak đã viết thư cho Thủ Tướng Nikita S. Khrushchev như sau: “Rời khỏi đất mẹ cũng là cách làm cho tôi chết”, ông từ chối nhận Giải Thưởng Nobel vì áp lực của chính quyền. Ông qua đời vì bệnh ung thư và bệnh tim vào ngày 30 tháng 5 năm 1960 tại Peredelkino, một nơi gần thành phố Moscow.
Sau khi nhà lãnh tụ Liên Xô Michail Gorbachev chủ trương chính sách “Cởi Mở” (glasnost), tác phẩm “Bác Sĩ Zhivago” được chính thức xuất bản tại nước Nga vào năm 1987, 27 năm sau khi tác giả qua đời, vào thời điểm này giới văn học Nga đã phục hồi danh tiếng của nhà thơ kiêm nhà văn Boris Pasternak và căn nhà của ông tại thị trấn Peredelkino được chuyển thành một viện bảo tàng.
Các tác phẩm khác của Boris Pasternak gồm có: “Các lối đi thanh thản” (Airy Paths, 1925), cuốn tự thuật “Đối xử an toàn” (Safe Conduct, 1931), “Tôi nhớ lại” (I Remember, 1957), và một vở kịch dang dở “Vẻ Đẹp mù” (The Blind Beauty, 1969).

2/ Một Bài Thơ trong Tác Phẩm “Bác Sĩ Zhivago” của Boris Pasternak.

MEETING
The snow will bury roads
And houses to the roofs
If I go to stretch my legs
I see you at my door.

In a light fall coat, alone,
Without overshoes or hat,
You try to keep your calm,
Sucking your snow-wet lips

The tree and fences draw
Far back into the gloom.
You watch the street, alone
Within the falling snow.

Your scarf hangs wet with snow,
Your collar and your sleeves,
And stars of melted flakes
Gleam dewy in your hair.

A shining wisp of hair
Lights suddenly your face,
Your figure in the cold,
In that thin overcoat.

Flakes gleam beneath your lashes
And anguish in your eyes.
You were created whole,
A seamless shape of love.

It seems as if your image
Drawn fine with pointed steel
Is now in silver lines
Cut deep within my heart.

Forever there you live
In your true humility
It does not really matter
If the world is hard as stone.

I feel I am your double
Like you outside, in dark
I cannot draw the line
Dividing you from me.

For who are we, and whence,
If their idle talk alone
Lives long in aftertime
When we no longer live?

Boris Pasternak (1890-1960)
(Translated by Eugene M. Kayden
in the Poems of Doctor Zhivago)

GẶP GỠ
Tuyết vùi chôn những lối mòn
Và rơi phủ trắng trên muôn mái nhà
Khi anh dạo bước chân qua
Thấy em bên cửa thướt tha bóng hồng.

Đơn côi manh áo thu phong
Chân trơ hài lạnh, đầu không mũ hàn,
Vẻ thản nhiên, dáng bình an
Đôi bờ môi nhấm tuyết tan ướt mềm.

Hàng cây bờ dậu im lìm
Xa, buồn, ảm đạm như chìm trong sương,
Em nhìn hiu quạnh phố phường
Bóng cô đơn giữa tuyết vương khắp trời.

Tuyết rơi làm ướt em tôi,
Ướt khăn, ướt áo, ướt người tôi thương,
Một trời hoa tuyết vấn vương
Long lanh tinh tú gieo sương mái đầu.

Tóc mây óng ánh tươi màu
Khuôn trăng xinh đẹp chợt đâu rạng ngời,
Dáng em vùng lạnh chơi vơi
Phong phanh áo khoác giữa trời giá băng.

Bờ mi tuyết đọng sáng ngần
Sáng thêm đôi mắt sầu dâng võ vàng.
Từ em sáng tạo vẹn toàn
Tình yêu hình tượng vô vàn tinh nguyên.

Dường như nếu bóng hình em
Vẽ bằng nét nhọn dễ chìm nét hoa
Thì giờ đây cũng khó nhòa
Khắc sâu nét bạc đậm đà tim anh.

Ấp e nơi đó mộng lành
Bóng em sống mãi, chân thành, khiêm cung,
Mặc cho trần thế mịt mùng
Khó khăn gian khổ chập chùng sá chi.

Trong anh tâm tưởng mãi ghi
Rằng hai ta chẳng cách ly bóng hình,
Anh đâu vạch được đường tình
Phân ranh đôi lứa chúng mình lìa xa.

Cội nguồn lai lịch chúng ta
Có chăng ai biết cũng là thế thôi,
Mai này còn mãi chuyện đời
Dù đôi ta hết rong chơi cõi trần.

Tâm Minh Ngô Tằng Giao
(chuyển ngữ)

 

 

Phạm Văn Tuấn biên khảo

William Wordsworth (1770 – 1850), Thi Bá của Nước Anh

Phạm Văn Tuấn

william_wordsworth_at_28

William Wordsworth lúc 28 tuổi

William Wordsworth được nhiều học giả coi là thi sĩ lãng mạn quan trọng nhất của nước Anh. Vào năm 1795, Wordsworth đã gặp thi sĩ Samuel Taylor Coleridge, họ cộng tác với nhau trong tập thơ “Lyrical Ballads” (Thơ Ballad Trữ Tình, 1798), đây là tập thơ được coi là khởi đầu cho phong trào Lãng Mạn tại nước Anh và trong tập thơ này, phần lớn các bài thơ là của Wordsworth.

William Wordsworth là Thi Bá (Poet Laureate) của nước Anh từ năm 1843 cho tới khi ông qua đời vào năm 1850.

1/ Thời niên thiếu.

             William Wordsworth sinh ngày 7 tháng 4 năm 1770 trong căn nhà Wordsworth tại Cockermouth, Cumberland, là con trai thứ hai của ông John Wordsworth và bà Ann Cookson. Cumberland là khu vực có nhiều phong cảnh đẹp thuộc miền tây bắc của nước Anh, nơi đây còn được gọi là “Khu Vực Hồ Nước” (the Lake District). Năm sau 1771, ra đời là người em gái Dorothy, cùng rửa tội với William. Dorothy cũng là một nhà thơ. William có một người anh trai tên là Richard là một luật sư, một người em trai tên John sinh sau Dorothy.

Ông John Wordsworth, cha của William, là người đại diện luật pháp của ông James Lowther, Hầu Tước thứ Nhất của miền Lonsdale, nhờ chức vụ này, gia đình ông John đã cư ngụ trong một tòa nhà to lớn trong một tỉnh nhỏ, nhưng ông John thường đi công tác xa nhà, vì vậy tình cảm giữa người cha và các con không được đằm thắm cho tới khi ông John qua đời vào năm 1783, tuy nhiên ông John đã khuyến khích William phải đọc nhiều sách văn thơ, đặc biệt là của các tác giả Shakespeare và John Milton. William còn được phép dùng các sách trong thư viện của cha và cũng có thời gian sinh sống tại Penrith là nơi quê ngoại.

William Wordsworth được mẹ dạy tập đọc, theo học một trường tiểu học tại Cockermouth rồi tại một trường ở Penrith, nơi dành cho các trẻ em của các gia đình quý phái. Chính tại Penrith mà William đã gặp gia đình Hutchinsons, trong đó có cô Mary, sau này là người vợ của William Wordsworth. Sau khi bà mẹ qua đời, ông John gửi con trai theo học trường trung học Hawkshead tại Lancashire (bây giờ là Cumbria).

2/ Thời trưởng thành và sáng tác.

             William Wordsworth bắt đầu là nhà thơ vào năm 1787 khi ông cho phổ biến một bài thơ “sonnet” (thơ 14 câu) trên tờ Tạp Chí Châu Âu (the European Magazine). Cũng vào năm này, William theo học Đại Học St. John, Cambridge, đậu văn bằng Cử Nhân (BA degree) vào năm 1790.

Năm 1790, William Wordsworth đi du lịch khắp châu Âu, thăm miền Núi Alps, tới các nước Pháp, Thụy Sĩ và Ý. Vào tháng 11 năm 1791, Wordsworth tới nước Pháp khi đó đang có cuộc Cách Mạng nên ông rất say mê phong trào Cộng Hòa (the Republican movement). Tại nước Pháp, Wordsworth đã yêu thương một thiếu nữ tên là Annette Vallon, năm 1792 cô này sinh cho ông một bé gái đặt tên là Caroline. Vấn đề tài chính và sự căng thẳng chính trị giữa nước Anh và nước Pháp khiến cho Wordsworth phải trở về nước Anh một mình.

Thời kỳ khủng bố (the Reign of Terror) tại nước Pháp đã làm cho Wordsworth mất niềm tin vào cuộc Cách Mạng Pháp rồi cuộc tranh chấp giữa nước Anh và nước Pháp khiến cho ông không liên lạc được với cô Annette và đứa con gái Caroline

Vào năm 1793, Wordsworth cho xuất bản hai tập thơ có tên là “An Evening Walk” (Cuộc Đi Dạo Buổi Chiều) và “Descriptive Sketches” (Phác Họa). Qua năm 1795, ông nhận được tài sản thừa kế là 900 bảng Anh từ Raisley Calvert nên nhờ vậy, ông có đủ lợi tức để theo đuổi nghề làm thơ.

Tới năm 1795, Wordsworth đã gặp Samuel Taylor Coleridge tại Somerset, cả hai nhà thơ này trở nên đôi bạn thân và cùng nhau phổ biến tập thơ “Lyrical Ballads” (Thơ Ballad Trữ Tình, 1798), đây là một tác phẩm quan trọng trong phong trào Lãng Mạn tại nước Anh. Trong ấn bản lần thứ hai của tập thơ kể trên, Wordsworth cho rằng thơ phú có thể mô tả đời sống thường ngày và nên viết bằng ngôn ngữ bình thường, được thực sự xử dụng bởi mọi người. Ông cũng cho rằng “thơ phú” (poetry) là các hồi tưởng của cảm xúc trong cảnh tĩnh lặng và nhà thơ là một người nói với nhiều người trong cách nhậy cảm của nhà thơ. Wordsworth cũng định nghĩa Thơ Phú bằng lời nói nổi tiếng như sau: “Thơ phú là sự tuôn trào của các cảm giác quá mạnh, có nguồn gốc từ cảm xúc hồi tưởng trong tĩnh lặng“.

Từ năm 1795 tới năm 1797, Wordsworth đã viết ra một vở kịch duy nhất “The Borderers” (Người Dân Biên Giới), đây là thời đại của Vua Henry III của nước Anh khi người Anh xung đột với các kẻ cướp biển Tô Cách Lan.

Vào mùa thu năm 1798, Wordsworth, Dorothy và Coleridge đã cùng nhau đi du lịch qua nước Đức, trong dịp mùa đông của năm này, Wordsworth và Dorothy cư ngụ tại Goslar và Wordsworth băt đầu viết tập thơ “The Prelude” (Thơ Mở Đề). Wordsworth thường được ca ngợi là Thi Sĩ khéo léo mô tả thiên nhiên, riêng trong tập Thơ Mở Đề này, Wordsworth đã nói rằng “tình yêu thiên nhiên dẫn tới tình yêu nhân loại” (the love of nature leads to the love of humanity), và trí tưởng tượng đã tạo nên các giá trị tinh thần ở bên ngoài trí nhớ về các cảnh nhìn và âm thanh trong thiên nhiên. Cũng tại Goslar, Wordsworth đã viết ra nhiều bài thơ danh tiếng, kể cả bài “The Lucy poems” (Các Vần Thơ Lucy).

Qua mùa thu năm 1799, Wordsworth cùng người em gái Dorothy trở về nước Anh, họ thăm viếng gia đình Hutchinsons tại Sockburn, rồi định cư tại Dove Cottage của Grasmere trong Khu Vực Hồ Nước (the Lake District), chính vào dịp này, Wordsworth đã gặp nhà thơ Robert Southey ở gần đó. Bộ ba thi sĩ Wordsworth, Coleridge và Southey trở nên các Nhà Thơ Hồ Nước (the Lake Poets). Cũng chính trong giai đoạn này, thơ phú của Wordsworth xoay quanh các đề tài là sự chết, tính chịu đựng, sự chia ly và nỗi buồn.

Hội Nghị Hòa Bình Amiens đã cho phép Wordsworth đi du lịch qua nước Pháp vào năm 1802 với người em gái Dorothy để viếng thăm cô Annette và cháu gái Caroline tại Calais. Mục đích của cuộc viếng thăm này là để Wordsworth chuẩn bị làm lễ cưới với người vợ là Mary Hutchinson. Sau đó Wordsworth đã viết ra bài thơ sonnet “It is a beauteous evening, calm and free” (Đó là một buổi chiều đẹp, bình yên và tự do), mô tả cuộc đi bộ nơi bờ biển với đứa con gái 9 tuổi.

Vào năm 1802, người thừa kế của gia đình Lowther đã trả cho Wordsworth món nợ cũ là 4,000 bảng Anh, nhờ món tiền này, ông đã lập gia đình với người bạn gái thưở xưa là Mary Hutchinson vào ngày 4 tháng 10 năm 1802, họ có 5 người con.

Tới năm 1805, người em trai John của Wordsworth qua đời vì bị đắm tầu biển, Wordsworth đã đau buồn mà viết ra tập thơ “Elegiac Stanzas Suggested by a Picture of Peele Castle” (Các Vần Thơ bi ai bởi một hình ảnh của lâu đài Peele, 1806). Tập thơ này đánh dấu cuối giai đoạn sáng tác trẻ trung của tác giả. Có vẻ như Nhà Thơ này đã từ bỏ các niềm tin lạc quan thuở trước mà đã được tác giả xác nhận trong bài thơ ‘Tintern Abbey” với ý nghĩa rằng “Tạo Hóa không bao giờ phản bội trái tim đã yêu thương Tạo Hóa”.

Qua năm 1807, Wordsworth cho xuất bản tập thơ danh tiếng nhất trong nền Văn Chương Anh: “Ode: Intimations of Immortality” (Thơ Ca Ngợi: Các Thân Tình của sự Bất Tử). Trong tập thơ này, tác giả ca ngợi thời niên thiếu và thúc dục mọi người nên dùng trực giác (intuition).

Wordsworth dọn gia đình tới Núi Rydal, Ambleside, vào năm 1813 cùng với Dorothy rồi tại nơi này, ông sinh sống cho tới cuối đời. Wordsworth cho phổ biến tập thơ “The Excursion” (Cuộc Dạo Chơi) như là phần thứ hai của tập thơ 3 phần có tên là “The Recluse” (Người Ẩn Dật).

Vào năm 1838, Wordsworth được trao tặng danh hiệu Tiến Sĩ Danh Dự (an honorary doctorate in Civil Law) của trường Đại Học Durham rồi năm sau, cũng danh dự này của trường Đại Học Oxford. Tới năm 1842, chính quyền Anh đã tặng cho Nhà Thơ William Wordsworth món tiền hưu 300 bảng Anh mỗi năm. Qua năm 1843, Wordsworth trở nên Thi Bá (Poet Laureate) của nước Anh.

William Wordsworth qua đời vào ngày 23 tháng 4 năm 1850 tại nhà riêng khi ông cư ngụ tại Núi Rydal, vì chứng viêm màng phổi (pleurisy) và được chôn cất trong nghĩa trang của Nhà Thờ St. Oswald, Grasmere.

William Wordsworth đã sáng tác  ra các vần thơ hay nhất vào thời kỳ trước năm 1807. Qua các tập thơ, ông đã thảo luận về đức tính, giáo dục và niềm tin tôn giáo. Các tác phẩm thơ xuất sắc nhất của William Wordsworth gồm có: “Lyrical Ballads” (Thơ Ballad Trữ Tình), “The Excursion” (Cuộc Dạo Chơi), “The Prelude” (Thơ Mở Đề) và “The Daffodils” (Hoa Thủy Tiên) với câu thơ “I wandered Lonely as a Cloud” (Tôi đi lang thang cô độc như một Đám Mây).

Tổng cộng các bài thơ Sonnet của William Wordsworth là 523 bài, số lượng này khiến cho nhiều học giả so sánh ông với William Shakespeare và John Milton./.

daffodils-wallpaper-5

3/ Bài Thơ The Daffodils (Hoa Thủy Tiên) của William Wordsworth.

A/ Phần tiếng Anh.

The DAFFODILS

I wandered lonely as a cloud

That floats on high o’er vales and hills,

When all at once I saw a crowd, –

A host, of golden daffodils

Beside the lake, beneath the trees,

Fluttering and dancing in the breeze.

Continuous as the stars that shine

And twinkle on the Milky Way,

They stretched in never-ending line

Along the margin of a bay:

Ten thousand saw I, at a glance,

Tossing their heads in sprightly dance.

The waves beside them danced, but they

Outdid the sparkling waves in glee;

A poet could not but be gay

 In such a jocund company;

I gazed – and gazed – but little thought

What wealth the show to me had brought.

For oft, when on my couch I lie,

In vacant or in pensive mood,

They flash upon that inward eye

Which is the bliss of solitude;

And then my heart with pleasure fills,

And dances with the daffodils.

WILLIAM WORDSWORTH (1770-1850)

B/ Phần Thơ Chuyển Ngữ của Nhà Thơ Tâm Minh Ngô Tằng Giao

HOA THỦY TIÊN

Lang thang như mây trời cô độc

Bồng bềnh qua lũng thấp đồi xa,

Chợt đâu ta thấy thảm hoa

Thủy tiên đồng nội thướt tha óng vàng

Bên hồ vắng dưới hàng cây mát

Theo gió ngàn phơ phất múa chào.

Hoa tươi giăng tựa ngàn sao

Long lanh chiếu sáng đường vào Sông Ngân,

Hoa trải thảm xa gần phô sắc

Dọc theo bờ xanh ngắt vịnh bên:

Muôn hoa rực rỡ một miền

Đùa vui lả ngọn trao duyên, kết tình.

Dù bờ vịnh lung linh sóng nước

Nào đẹp hơn tha thướt dáng hoa;

Nhà thơ thi hứng chan hòa,

Cùng hoa tấu khúc hoan ca tuyệt vời;

Ta mải ngắm lộc trời vui thú

Cảnh thiên nhiên lúc đó như mơ.

Sau này ngồi tựa án thư,

Thả hồn hoang vắng, trầm tư cõi lòng,

Đồng hoa cũ về trong ký ức

Nỗi đơn côi hạnh phúc thăng hoa;

Niềm vui rộn rã bao la,

Thủy tiên khiêu vũ cùng ta dập dìu.

TÂM MINH NGÔ TẰNG GIAO chuyển ngữ.

C/ Phần Thơ Chuyển Ngữ của Nhà Thơ Hà Bỉnh Trung.

HOA THỦY TIÊN

Tôi bước một mình như đám mây

Vượt ghềnh vượt núi nhẹ cao bay,

Bỗng nhiên tôi thấy bên hồ biếc

Đám thủy tiên vàng, dưới khóm cây.

Hằng hà sa số là hoa đẹp

Nhẩy múa rung rinh đón gió qua

Bát ngát như sao bừng sáng tỏ

Thi nhau lấp lánh giải Ngân Hà.

Miên man vô tận hoa khoe sắc

Rải rác đầy bên vũng nước dài:

Tôi thấy muôn ngàn hoa thắm ngát

Ngả nghiêng đầu sẽ múa vui chơi.

Sóng nước, bên hoa, cùng múa hát,

Nhưng hoa hơn sóng, lúc âu ca:

Thi nhân chỉ thấy lòng vui vẻ

Trước cảnh tưng bừng sóng rỡn hoa!

Tôi trông ngơ ngẩn, thầm suy nghĩ

Cảnh đẹp làm tôi sướng tuyệt vời;

Từ đấy, nằm dài trên ghế nghỉ

Luôn luôn hoài tưởng, nghĩ xa xôi.

Hoa lại sáng ngời trong khóe mắt

Cho tôi hạnh phúc lúc cô miên;

Lòng tôi phấn khởi, đời vui vẻ,

Nhảy múa vui cùng đám thủy tiên.

HÀ BỈNH TRUNG chuyển ngữ

D/ Phần Thơ Chuyển Ngữ của Nhà Thơ Nguyễn Thị Ngọc Dung

HOA THỦY TIÊN
 
Lang thang như  áng mây trôi
Xưa qua thung lũng lên đồi dốc cao
Bàng hoàng chợt thấy lao xao
Thủy tiên vàng thắm đón chào khách du
Bên hồ bóng lá xanh mơ
Dập dìu khiêu vũ say sưa gió đàn.
 
Như sao chiếu sáng Ngân giang
Long lanh muôn cánh hoa vàng trinh nguyên
Bao la thảm dệt thủy tiên
Trải thêu bờ vịnh bình yên chân trời
Ngàn hoa lóng lánh tuyệt vời
Tưởng chừng luân vũ với người yêu thương
 
Rập rờn bên sóng đại dương
Thủy tiên ca múa nghê thường mừng xuân
Ngất ngây lãng đãng thi nhân
Ngỡ đâu hội ngộ tri âm bao giờ
Miên man dạo chốn mộng mơ
Rạt rào ý hứng vần thơ trữ tình.
 
Nệm dài thường vẫn ngả mình
Với niềm hoang vắng lung linh cõi lòng
Hoa vương ánh mắt bên song
Cô đơn hạnh phúc tìm trong thú buồn
Phiêu diêu đầy ắp tâm hồn
Bềnh bồng lạc giữa cánh đồng Thủy Tiên.
 
NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG chuyển ngữ

Phạm Văn Tuấn biên khảo./.

 

Alphonse de Lamartine (1790 – 1869) – Thi Sĩ Lừng Danh của Nước Pháp.

Phạm Văn Tuấn

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Alphonse Marie Louis de Prat de Lamartine (21/10/1790 – 28/2/1869) là nhà văn, nhà thơ và nhà chính trị của nước Pháp, ông là nhân vật giúp công vào nền Đệ Nhị Cộng Hòa (the Second Republic) và vào công tác bênh vực lá cờ Ba Màu (the Tricolor), tức là Quốc Kỳ của nước Pháp.

            Tập thơ trữ tình của Lamartine với tên là “Suy Tưởng Thơ Phú” (Meditations Poetiques, 1820) đã khiến cho ông trở nên một trong các thi nhân quan trọng trong Phong Trào Lãng Mạn (the Romantic Movement) của nền Văn Chương Pháp.

1/ Tiểu Sử của Lamartine.

            Alphonse de Lamartine sinh ra đời tại Macon, Burgundy vào ngày 21 tháng 10 năm 1790, trong một gia đình quý tộc Pháp, ông đã trải qua thời kỳ niên thiếu nơi trang trại của gia đình. Cha của Alphonse de Lamartine là một nhà quý phái, đã bị giam cầm vào thời đại khủng bố của cuộc Cách Mạng Pháp đang lên cao, nhưng rất may là ông Lamartine cha đã không bị đưa lên máy chém.

            Alphonse được giáo dục tại trường trung học Belley, giảng dạy do các Cha Dòng Tên (the Jesuits) dù cho vào thời gian này, các tu sĩ tại nước Pháp đều bị áp bức. Alphonse de Lamartine muốn phục vụ trong quân đội hay trong ngành ngoại giao nhưng vào thời bấy giờ, nước Pháp do Hoàng Đế Napoleon cai trị trong khi cha mẹ của ông lại là những người trung thành với chế độ Bảo Hoàng, vì vậy Lamartine đã không được chấp nhận vào các công vụ.

            Vào năm 1814, khi chế độ quân chủ Bourbon được phục hồi, Lamartine phục vụ trong đội cận vệ của Vua Louis 13. Vào năm sau khi Hoàng Đế Napoleon trở lại chính trường của nước Pháp sau khi đã bị đi đầy tại đảo Elbe, Lamartine di chuyển sang Thụy Sĩ. Sau khi Hoàng Đế Napoleon bị thua Trận Waterloo và triều đại Bourbon được phục hồi lần thứ hai, Lamartine bỏ nghề quân sự.

            Do bị hấp dẫn bởi thú văn thơ, Alphonse de Lamartine đã viết ra vài bài thơ bi ai và các bi kịch bằng thơ. Trước kia vào đầu năm 1812, Lamartine đã yêu say đắm một thiếu nữ lao động trẻ tên là Antoniella, tới năm 1815, ông được biết tin cô gái này đã qua đời nên sau này ông đã viết ra cuốn truyện “Graziella” với các giai thoại về cô gái kể trên.

            Khi sức khỏe bị yếu đi, Lamartine đã tới Aix-les-Bains là một nơi nghỉ mát có suối nước khoáng và đã gặp rồi say mê một người đẹp nhưng đang bị bệnh nặng tên là Julie Charles. Do cô Julie có quen biết nhiều nhân vật quyền thế tại thành phố Paris, cô Julie đã giúp Lamartine xin được một chức vụ trong công quyền. Lamartine đã làm nhiều bài thơ để tặng cô Julie, đặc biệt là bài thơ “Le Lac” (The Lake – Hồ Nước) qua đó nhà thơ hồi tưởng mối tình nồng ấm của đôi cặp tình nhân. Tới khi cô Julie qua đời vào tháng 12 năm 1817, Lamartine đã làm nhiều bài thơ tưởng nhớ Cô này, đáng kể là bài thơ “Le Cruxifx” (Thánh Giá). Lamartine đã trở nên một bậc thầy trong các thể thơ của Văn Chương Pháp.

            Vào năm 1820, Lamartine kết hôn với cô Maria Ann Birch, một người đàn bà trẻ gốc Anh. Cũng vào năm này, ông cho xuất bản tập thơ đầu tiên có tên là “Meditations Poetiques” (Suy Tưởng Thơ Phú), đồng thời ông cũng tham gia vào Ngoại Giao Đoàn, làm thư ký cho Tòa Đại Sứ Pháp tại Naples.

            Tập thơ “Suy Tưởng” ngay lập tức đã thành công bởi vì âm điệu lãng mạn và cảm xúc chân thành của các lời thơ. Tập thơ này đã mang lại cho nền Thơ Phú của nước Pháp một nét nhạc mới với các chủ đề thân mật và có tính cách tôn giáo. Tính ngân vang của các câu thơ, sức mạnh của nhịp thơ và sự đam mê vì cuộc sống đã tương phản với lối thơ của thế kỷ 18 trước đây.

            Tập thơ “Suy Tưởng” này đã thành công tới độ nhà thơ Lamartine đã khai triển trong hai năm về sau bằng hai tập thơ “Nouvelles Meditations Poetiques” (Suy Tưởng Thơ Phú Mới) và “Mort de Socrates” (Socrates qua đời). Trong hai tập thơ này có thêm phần siêu hình (metaphysics). Tập thơ “Le dernier chant du pelerinage d’Harold” (Câu hát cuối cùng của người hành hương Harold) xuất bản vào năm 1825, đã diễn tả được sự duyên dáng mà sau này Byron đã mô tả theo phong cách tương tự.

            Alphonse de Lamartine được phong tước Hiệp Sĩ (Chevalier of the Legion of Honour) vào năm 1825 rồi làm việc trong Tòa Đại Sứ Pháp tại nước Ý từ năm 1825 tới năm 1828. Ông được bầu vào Hàn Lâm Viện Pháp (the French Academy) vào năm 1829 rồi năm sau, ông cho phổ biến hai tập thơ “Harmonies Poetiques et Religieuses” (Hòa Điệu Thơ Phú và Tôn Giáo) trong đó có các lời ca ngợi Thiên Chúa (alleluia) một cách nhiệt tình.

            Cũng vào năm 1830 khi ông Louis Philippe lên làm Vua theo nền Quân Chủ Lập Hiến sau cuộc Cách Mạng Tháng 7 (the July Revolution), Lamartine đã từ bỏ ngành ngoại giao để tham gia vào chính trị, tuy nhiên ông từ chối liên hệ vào chế độ quân chủ để có thể duy trì tính cách độc lập của mình. Lamartine bắt đầu chú ý tới các vấn đề xã hội. Sau hai lần tranh cử không thành công, Lamartine đã được bầu làm Dân Biểu vào năm 1833. Dù vậy, ông vẫn còn làm thơ. Tập thơ “Les Visions” (Các Tầm Nhìn) đã được ông suy ngẫm từ năm 1821, nay được ông coi là một thiên anh hùng ca của tâm hồn (an epic of the soul). Chủ đề của tập thơ này là về một thiên thần bị đuổi ra khỏi Thiên Đường vì đã chọn yêu thương một phụ nữ và thiên thần này đã bị kết tội tái sinh nhiều lần cho đến khi nào thiên thần đó “yêu thích Thượng Đế hơn”.

            Từ năm 1832-33, Lamartine du lịch qua các xứ Lebanon, Syria và Đất Thánh (the Holy Land). Trong chuyến du lịch này và khi đang lưu tại Beirut, vào ngày 7/12/1832, Lamartine được tin người con gái duy nhất của ông tên là Julia đã qua đời.    Trong chuyến du lịch tới xứ Lebanon, Lamartine đã gặp Hoàng Tử Bashir Shihab II và Hoàng Tử Simon Karam, là hai người đam mê thơ văn. Một thung lũng của miền Lebanon ngày nay còn được gọi bằng tên “Thung Lũng Lamartine” (the Valley of Lamartine) để kỷ niệm cuộc thăm viếng này và trong rừng cây bách hương (cedar) tại Lebanon, có một cây to lớn mang danh “cây Bách Hương Lamartine” (the Lamartine Cedar) bởi vì gần 200 năm về trước, Lamartine đã ngồi làm thơ dưới gốc cây bách hương này.

            Năm 1835, Lamartine cho phổ biến cuốn sách “Voyage en Orient” (Du Lịch tới miền Trung Đông), kể lại cuộc hành trình sang trọng nhưng cũng từ nay, ông mất đi niềm tin vào Thiên Chúa.

            Vào năm 1836, Lamartine đã viết ra cuốn truyện “Jocelyn”. Đây là câu chuyện của một thanh niên trẻ trước kia đã muốn đi theo đời sống tôn giáo, nhưng đã bị cuộc Cách Mạng Pháp đuổi ra khỏi tu viện. Anh chàng này đam mê một thiếu nữ trẻ nhưng vì nhớ lại mệnh lệnh của vị giám mục già sắp qua đời, anh ta đã từ chối tình yêu để trở nên một “người con của Thiên Chúa” (a man of God), chỉ biết hy sinh đời sống của mình cho công việc phục vụ các đồng loại. Tới năm 1838, Lamartine cho phổ biến phần đầu của một tập thơ siêu hình dài với tên là “La chute d’un Ange” (the Fall of an Angel = Sự sa ngã của một Thiên Thần).

                        Sau khi tập thơ tên là “Recueillements Poetiques” (Poetic Meditation = Tuyển Tập Thơ Phú), Lamartine không còn quan tâm tới văn thơ nữa mà quay sang hoạt động chính trị một cách tích cực. Ông tin rằng các vấn đề xã hội mà ông gọi là “các câu hỏi của giai cấp vô sản” (the questions of the proletariat) phải là vấn đề chính của thời đại. Lamartine thương xót các hoàn cảnh của các công nhân, ông chối bỏ các niềm tin vào chính quyền rồi trong hai bài diễn văn vào các năm 1838 và 1846, ông cho rằng cuộc cách mạng của giới lao động sẽ không tránh khỏi.

            Vào năm 1847, Lamartine cho xuất bản cuốn sách “Histoire de Girondins” (Lịch Sử của các Nhà Cách Mạng Girondists), đây là cuốn lịch sử của đảng Girondin ôn hòa và sau cuộc Cách Mạng Pháp. Cuốn sách này đã khiến cho nhiều người biết tới danh tiếng của Lamartine, nhất là các đảng phái phe tả.

            Sau cuộc Cách Mạng xẩy ra vào ngày 24/2/1848, nền Cộng Hòa Thứ Hai (the Second Republic) được công bố tại thành phố Paris và Lamartine đã là Bộ Trưởng Ngoại Giao từ ngày 24/2/1848 tới ngày 11/5/1848. Vì cao tuổi, ông Jacques Charles Dupont de l’Eure, Chủ Tịch của Chính Phủ Lâm Thời đã giao nhiều nhiệm vụ quan trọng của ông ta cho Lamartine. Lamartine cũng ở trong Ủy Ban Hành Pháp (the Executive Commission), đây là Bộ Chỉ Huy của nước Pháp. Lamartine cũng được ủy nhiệm việc công bố Nền Cộng Hòa trên bao lơn của Tòa Thị Chính của thành phố Paris và duy trì việc dùng lá cờ Ba Màu (the Tricolor) là Quốc Kỳ của nước Pháp. Lamartine đã nói như sau: “Đây là lá cờ của nước Pháp, lá cờ của các đạo quân chiến thắng, của vinh quang của chúng ta. Nước Pháp và lá cờ Ba Màu có chung một ý tưởng, cùng một uy tín và ngay cả nỗi sợ hãi nếu cần dành cho kẻ thù của chúng ta. Hãy cứu xét xem phải mất bao nhiêu máu đào để tạo nên một lá cờ khác… Lá cớ Ba Màu đã đi vòng quanh thế giới với nền Cộng Hòa và Đế Quốc, với sự tự do và vinh quang của quý vị…

            Trong cuộc Cách Mạng năm 1848, giai cấp tư hữu đã không chấp nhận giai cấp lao động có quyền sở hữu vũ khí để bảo vệ chính họ. Vào tháng 4/1848, Lamartine được bầu vào Quốc Hội Pháp. Những người tư sản thuộc đảng phái phe hữu cho rằng họ bầu Lamartine vô chính quyền để làm hòa giải với giai cấp vô sản trong khi lực lượng quân sự có thể duy trì được trật tự. Nhưng giới tư sản đã nổi giận khi thấy Lamartine công bố rằng ông là người phát ngôn của giới lao động. Vào ngày 24/6/1848, Lamartine bị đẩy ra khỏi chính quyền và cuộc nổi dậy của giới vô sản bị đàn áp.

            Lamartine trở nên 60 tuổi vào năm 1850 và đi vào cảnh hoàng hôn của cuộc đời với các món nợ lớn, không phải vì ông là người tiêu xải phung phí mà vì ông đã cho các người em gái của ông các món tiền để hoàn bù vào tổng số tài sản mà ông đã thừa hưởng của gia đình do ông là người con trai duy nhất.

            Trong 20 năm trường, Lamartine đã phấn đấu một cách tuyệt vọng đối với cảnh phá sản, ông đã cho xuất bản nhiều cuốn sách viết về nhiều đề tài: lịch sử, phê bình, tâm sự cá nhân (personal confidences), đàm thoại văn chương (literary conversations)…

            Lamartine cũng cho phổ biến tạp chí xuất bản định kỳ tên là “Cours Familiers de Litterature” (Tạp Chí Văn Chương) (1856-1869) trong đó đã xuất hiện các bài thơ của ông như “La vigne et la maison” (Cây nho và căn nhà), “Le Desert” ( Sa Mạc)…

            Alphonse de Lamartine qua đời vào ngày 28/2/1869 tại thành phố Paris, thọ 78 tuổi. Nhà Thơ người Pháp Frederic Mistral, đoạt Giải Thưởng Nobel Văn Chương năm 1904, đã nổi tiếng nhờ các lời ca ngợi Lamartine và nhờ thi phẩm dài tên là Mireio.

            Alphonse de Lamartine được coi là Nhà Thơ lãng mạn đầu tiên của nước Pháp, được nhà thơ Paul Verlaine đề cao và ông đã gây ảnh hưởng tới các nhà văn, nhà thơ biểu tượng (the Symbolists).

2/ Bài Thơ danh tiếng “Cô Đơn” của Lamartine.

                   L’ I S O L E M E N T

         Souvent sur la montagne, à l’ombre du vieux chêne,

         Au coucher du soleil, tristement je m’assieds ;

         Je promène au hasard mes regards sur la plaine,

         Dont le tableau changeant se déroule à mes pieds.

         Ici gronde le fleuve aux vagues écumantes,

         Il serpente et s’enfonce en un lointain obscur ;

         Là, le lac immobile étend ses eaux dormantes

         Où l’étoile du soir se lève dans l’azur.

         Au sommet de ces monts couronnés de bois sombres,

         Le crépuscule encor jette un dernier rayon ;

         Et le char vaporeux de la reine des ombres,

         Monte, et blanchit déjà les bords de l’horizon.

         Cependant, s’élancant de la flèche gothique

         Un son religieux se répand dans les airs ;

         Le voyageur s’arrête,et la cloche rustique

         Aux derniers bruits du jour mêle de saints concerts.

         Mais à ces doux tableaux mon âme indifférente

         N’éprouve devant eux ni charme, transports ;

         Je contemple la terre ainsi qu’une âme errante ;

         Le soleil des vivants n’échauffe plus les morts.

         De colline en colline en vain portant ma vue,

         Du Sud à l’aquillon, de l’aurore au couchant,

         Je parcours tous les points de l’immense étendue ;

         Et je dis: Nulle part le bonheur ne m’attend…

         Mais peut-être au delà des bornes de sa sphère,

         Lieu où le vrai soleil éclaire d’autres cieux,

         Si je pouvais laisser ma dépoulle à la terre,

         Ce que j’ai tant rêvé paraitrait à mes yeux.

         Là, je m’enivrerais à la source où j’aspire :

         Là, je retrouverais et l’espoir et l’amour,

         Et ce bien idéal que toute âme désire,

         Et qui n’a pas de nom au terrestre séjour.

         Que ne puis-je porter sur le char de l’aurore,

         Vague objet de mes voeux, m’élancer jusqu’à toi.

         Sur la terre d’exil pourquoi resté-je encore ?

         Il n’est rien de commun entre la terre et moi.

         Quand la feuille des bois tombe dans la prairie,

         Le vent du soir s’élève et l’arrache aux vallons

         Et moi, je suis semblable à la feuille flétrie :

         Emportez-moi comme elle, orageux aquilons !

                                   Alphonse de Lamartine

                  C Ô  Đ Ơ N

(chuyển ngữ do Nhà Thơ Hoàng Song Liêm).

      Tôi thường ngồi lặng khi chiều xuống,

      Trên đỉnh non cao, dưới bóng sồi ;

      Mắt vẩn vơ nhìn đồng bát ngát,

      Cảnh đồng biến hiện dưới chân tôi.

      Đây sông gầm sóng, xô bàng bạc,

      Uốn lượn chìm trong bóng tối xa:

      Kia, hồ tĩnh mịch nằm êm ả

      Một ánh sao chiều đáy nước sa.

      Rừng nhỏ âm u vòng chóp núi,

      Hoàng hôn gieo nhẹ nắng sau cùng;

      Chị Nguyệt như xe êm nhẹ lướt

      Đỉnh trời tuôn bạc giải mênh mông.

      Rồi tự góc nhà thờ chót vót

      Thu âm đồng vọng khắp nơi xa:

      Lãng du ngừng bước nghe yên lặng

      Chuông giáo đường hòa khúc thánh ca.

      Trước cảnh êm đềm, tôi lãnh đạm

      Chẳng hề cảm xúc luyến thương qua;

      Tôi ngắm đất trời, hồn lạc lõng:

      Nắng đời chẳng ủ ấp thây ma.

      Lơ đãng mắt nhìn Nam lại Bắc,

      Núi đồi lại tiếp núi đồi xa,

      Phương kia phương nọ quanh vô tận;

      Tôi nhủ: Nào đâu hạnh phúc chờ…

      Nhưng biết đâu ngoài biên vũ trụ,

      Có trời nắng rọi khắp muôn phương,

      Nếu tôi gửi xác trong lòng đất,

      Mơ sẽ về nơi mắt mở giương.

      Tôi sẽ say sưa nguồn khát vọng:

      Nào nguồn hy vọng, suối yêu đương,

      Lý tưởng bao người hoài bão mãi,

      Không tên chi gọi ở trần gian.

      Sao chẳng cho tôi theo ánh sáng,

      Ruổi niềm mơ ước tới xa xăm

      Giữ tôi đầy ải trần gian mãi?

      Tôi vướng tình chi với thế nhân?

      Khi lá rừng rơi trên nội cỏ,

      Gió chiều lên, cuốn lá về thung.

      Còn tôi như lá khô tàn úa:

      Mang kiếp tôi cùng, hỡi Bắc-phong!

(Nhà Thơ Hoàng Song Liêm chuyển ngữ sang Thơ Việt năm 1953)

Phạm Văn Tuấn.